Mục lục - 4 điều ▼
Điều 26. , Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2
Điều 1. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/5/2025 của Quốc hội. Do vụ án có kháng
cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân phường L, ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng
Thị H3, chị Hoàng Thị H4, bà Dương Thị B1, ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Thị
D, bà Trần Thị T3 đều vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành xét xử theo
thủ tục chung.
[3] Kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Trần Thị Đ và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 -
-- 13 of 23 --
14
Hải Phòng đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông Trần Văn H, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ công nhận thửa 212, 217 là di sản
thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại và rút một phần kháng cáo về việc xác định một
phần thửa đất số 212 (hồ sơ năm 1980 là thửa số 163) thuộc tờ bản đồ số 33 và
thửa đất 217 không phải là di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại, đề nghị Tòa án
xem xét công sức tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản của thửa đất số 217, 219, thuộc
tờ bản đồ số 33 từ đất ao thành đất ở và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số AK 498695 do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng
tên bà Hoàng Thị T4 đối với thửa số 212, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: Khu B, phường
L, thành phố Hải Phòng. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng thay đổi
một phần yêu cầu kháng nghị, không kháng nghị trong việc vi phạm trong việc
xác minh đất nông nghiệp và giá trị đất nông nghiệp được đền bù là di sản thừa kế
và vi phạm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ B2,
cụ T4 để lại là số tiền bồi thường giá trị đất nông nghiệp 172.000.000 đồng theo
quy định pháp luật, vi phạm giải quyết vượt quá phạm vi ủy quyền của chị Hoàng
Thị H3 ủy quyền cho bà T, vi phạm trong xác định giá trị thửa 216, 217, 219 là
đất ở và tính theo giá trị đất ở mà không xem xét nguồn gốc đất ao và hạn mức
công nhận đất ở. Đối với các yêu cầu kháng nghị khác được giữ nguyên và đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm. Xét thấy việc thay đổi, rút yêu
cầu kháng cáo, kháng nghị không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban
đầu nên căn cứ Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu thay đổi, rút một phần kháng cáo, kháng nghị của ông H, bà Đ và Viện Kiểm
sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.
- Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 8 - Hải Phòng:
[5] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện và yêu cầu chia số tiền đền bù đất nông
nghiệp của cụ B2, cụ T4: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa
kế của cụ B2, cụ T4 là các thửa đất 212, 216, 217, 219, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là vợ chồng ông T2, bà D và vợ chồng ông S, bà T3 yêu cầu độc lập
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà
Đ và vợ chồng ông bà hợp pháp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông H bổ sung yêu
cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại là số tiền bồi thường giá
trị đất nông nghiệp 172.000.000 đồng theo quy định pháp luật và các đồng thừa
kế là bà T, bà H1, ông B đều đồng ý chia số tiền trên. Xét thấy, số tiền bồi thường
giá trị đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 là 172.000.000 đồng thuộc phạm vi di
sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong cùng
vụ án là phù hợp, không vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự theo Điều 244
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[6] Về phạm vi ủy quyền của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, chồng
và các con của bà Trần Thị T5 là ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh
Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị Tuyết H5 đều có Giấy ủy
-- 14 of 23 --
15
quyền cho bà Trần Thị T, chị H3 (hiện đang cư trú tại Úc) ủy quyền cho bà T
tham gia tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định phạm vi nhận
uỷ quyền của chị H3 cũng như phạm vi nhận uỷ quyền của ông P1, anh H2, chị
H4, chị T9, nhất trí cho ông B suất thừa kế mà mình được hưởng và các suất thừa
kế mà những người ủy quyền cho bà được hưởng, các đương phía nguyên đơn
không kháng cáo. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận văn bản ủy quyền
của ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị
H4, chị Hoàng Thị Tuyết H5 cho bà Trần Thị T là đúng quy định theo Điều 135,
Điều 138. [7] Về yêu cầu chia thừa kế tài sản là thửa 212, 216, 217, 219:
[7] Về yêu cầu chia thừa kế tài sản là thửa 212, 216, 217, 219:
[7.1] Về thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện vụ án: Cụ Trần Văn
B2 chết ngày 30/5/2002 và cụ Hoàng Thị T4 chết ngày 28/11/2012 nên thời điểm
mở thừa kế của cụ B2 là ngày 30/5/2002, của cụ T4 là ngày 28/11/2012. Theo quy
định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B2,
cụ T4 vẫn còn.
[7.2] Về hàng thừa kế, người thừa kế: Lời khai của các đương sự đều xác
nhận: Cụ B2 và cụ T4 là vợ chồng hợp pháp và có 07 người con chung là: ông
Trần Văn M (chết năm 1973, không có vợ, con), bà Trần Thị D1 (chết năm 1946,
không có chồng, con), bà Trần Thị T5 (chết năm 2023); ông Trần Văn H; bà Trần
Thị H1; bà Trần Thị T và ông Trần Duy B. Ngoài ra, các cụ không có con nuôi,
con riêng. Bố mẹ các cụ đều chết trước các cụ. Đây là tình tiết sự kiện được các
đương sự thừa nhận, không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[7.2.1] Cụ B2 chết năm 2002, không để lại di chúc nên hàng thừa kế thứ
nhất của cụ B2 gồm 06 kỷ phần là cụ T4, bà T5 (chồng và các con của bà T5 là
ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4,
chị Hoàng Thị T9 được hưởng), ông H, bà H1, bà T, ông B.
[7.2.2] Cụ T4 chết năm 2012, không để lại di chúc nên hàng thừa kế thứ
nhất của cụ T4 gồm 05 kỷ phần là bà T5 (chồng và các con của bà T5 là ông
Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị
Hoàng Thị T9 được hưởng), ông H, bà H1, bà T, ông B.
[7.3] Về nguồn gốc đất và tài sản chung của cụ B2 và cụ T4:
[7.3.1] Đối với thửa 212: Căn cứ vào tài liệu xác minh tại chính quyền địa
phương thể hiện: Theo bản đồ năm 1995-1996 và sổ mục kê thể hiện: tờ bản đồ số
7 là thửa 259, diện tích 365m² mang tên ông Trần Văn B2, loại đất T. Theo bản
đồ năm 2004-2005 và sổ mục kê thể hiện: thửa 212, diện tích 392,2m², mang tên
bà Hoàng Thị T4 đã được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 28/8/2007 mang tên Hoàng Thị T4 (là người đại diện). Mặc dù tại
sổ mục kê 299 thể hiện ông H đứng tên nhưng bản đồ giải thửa năm 1995 -1996,
bản đồ giải thửa năm 2004- 2005 và sổ mục kê, thửa 212 đều đứng tên cụ B2 (cụ
Trần Văn D2). Mặt khác, theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
đất 212 cấp cho bà Hoàng Thị T4 (đứng tên đại diện), tại đơn xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T: “Thửa đ t
-- 15 of 23 --
16
hình thành trước 18/12/1980, đăng ký 299 gồm 02 thửa: thửa 163 DT 220m2 sổ
mục kê mang tên Trần Văn H thực ch t là Trần Văn D2 (tức Trần Văn B2) + thửa
180 DT 128m2 mang tên Trần Văn B2 (tức Dinh). Tổng diện tích 348m2, đã cho
con là ông H 93,2m², phần diện tích còn lại là 254,8m2, diện tích tăng thêm
137,4m2 là do l n ao về phía Nam, công nhận diện tích 254,8 m² đ t ở và 137,4
m² đ t CCN”. Tại phiên tòa, ông H và các đồng thừa kế đều xác nhận thửa đất
212 là di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định
thửa đất 212 là tài sản chung của cụ B2, cụ T4 là đúng quy định pháp luật.
[7.3.2] Đối với thửa đất số 216, 219: Theo bản đồ 1995-1996, bản đồ năm
2004- 2005 và sổ mục kê được lưu giữ tại chính quyền địa phương đều thể hiện
thửa đất 216, 219 đều đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn H (năm
2004-2005 thửa 216 đứng tên bà Trần Thị Đ, vợ ông H). Sau khi đăng ký kê khai
quyền sử dụng đất, vợ chồng ông H, bà Đ đã quản lý, sử dụng thửa đất 216, 219
từ năm 1995 và sinh sống ổn định, xây nhà trên một phần thửa đất 216, vợ chồng
cụ B2, cụ T4 còn sống và không có ý kiến gì. Ngày 14/9/2007 vợ chồng ông H
chuyển nhượng cho vợ chồng ông S bà T3 thửa đất 219 có diện tích 150,1 m²;
ngày 10/3/2009 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 bà D một
phần thửa đất 216. Thời điểm đó, cụ T4 còn sống, cụ và các đồng thừa kế của cụ
B2 đã biết việc ông H chuyển nhượng đất, bên nhận chuyển nhượng đã quản lý,
sử dụng, xây nhà trên đất và không có ý kiến gì, không có tranh chấp. Do đó, có
căn cứ xác định thửa đất 216, 219 là tài sản chung của ông H, bà Đ.
[7.3.3] Theo sổ sách lưu giữ tại địa phương, không có tài liệu nào thể hiện
thửa 216, 219 đứng tên cụ B2, cụ T4. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào lời khai
của các anh em họ cụ B2, cụ T4 là ông Trần Văn T7, ông Hoàng Văn Đ3, ông
Trần Văn V, lời khai của các cán bộ địa phương có thẩm quyền giao đất là ông
Nguyễn Văn T6 (nguyên Chủ tịch UBND xã T từ năm 1986 đến ngày
31/12/1999), ông Nguyễn Quốc S1 (nguyên Chủ nhiệm Hợp tác xã thời kỳ năm
1975 đến năm 1985, đã chết năm 2004) và lời khai của các con cụ T4, cụ B2 là bà
T, bà H1, ông B để xác định nguồn gốc thửa đất 216, 219 là của cụ B2, cụ T4
được Hợp tác xã giao đất, dẫn đến việc xác định thửa đất 216, 219 là di sản thừa
kế của cụ B2, cụ T4 để lại là không đúng, vi phạm đánh giá chứng cứ không
khách quan, toàn diện và đầy đủ.
[7.3.4] Đối với thửa 217: Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện:
Theo bản đồ 1995- 1996, thửa đất số 266, tờ số 7, diện tích 420m² loại đất A
nhưng tại sổ mục kê đăng ký tên ông Trần Văn H với diện tích 210m² loại đất T8
Theo bản đồ 2004-2005 và sổ mục kê thể hiện tại thửa đất số 217, tờ bản đồ 33,
diện tích 160,1m² mang tên ông Trần Văn B3 loại đất T8 Mặc dù ông H đứng tên
tại sổ mục kê năm 1995-1996 nhưng sau đó đã thay đổi tên chủ sử dụng đất kê
khai là ông Trần Văn B3. Vợ chồng ông B3 đã quản lý, sử dụng thửa đất 217 từ
thời điểm hai cụ còn sống, xây nhà và sinh sống ổn định trên đất, vợ chồng ông H,
bà Đ không phản đối gì. Lời khai của ông H xác nhận năm 1982, bố mẹ ông đã
cho vợ chồng ông ra ở riêng nên bố mẹ ông đã đổi thửa đất 217 của ông, bà để đổi
lấy thửa 216 của bố mẹ ông, hiện thửa đất 217 là của ông B3. Lời khai của ông H
phù hợp với sổ sách lưu giữ tại chính quyền địa phương, phù hợp với lời khai ông
B3, bà T, bà H1 về việc thửa đất có nguồn gốc của cụ B2, cụ T4 để lại, sau đó ông
-- 16 of 23 --
17
B3 đứng tên kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa 217 và hiện vợ chồng ông B3
đang quản lý, sử dụng diện tích đất trên. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông
B3, bà T, bà H1 xác nhận thửa 217 là di sản của bố mẹ để lại, ông Hòa đồng Ý
nên cần xác định thửa 217 là tài sản chung của cụ B2, cụ T4 để lại.
[7.3.5] Từ những phân tích trên có đủ cơ sở xác định, thửa đất 212, 217 là
di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại. Thửa 216, 219 là tài sản chung của vợ
chồng ông H, bà Đ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định cả 02 thửa 216, 219 là di
sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại và chia 02 thửa đất trên cho các đồng thừa kế
là vi phạm thu thập, đánh giá chứng cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của vợ chồng ông H, bà Đ và các đương sự khác trong vụ án. Do đó, cần chấp
nhận một phần kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
một phần kháng cáo bị đơn ông H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đ
về việc xác định thửa đất 216, 219 là tài sản chung của ông H, bà Đ.
[7.3.6] Đối với việc xác định giá trị di sản thừa kế: Theo bản đồ 299 và sổ
mục kê thể hiện thửa 216 một phần là đất ao, một phần là đất ở, thửa 217, 219,
loại đất ao hợp tác xã; tuy nhiên, theo sổ mục kê thời kỳ 1995-1996 và bản đồ, sổ
mục kê 2004-2005 đều thể hiện thửa 216, 217, 219, loại đất thổ cư. Tài liệu lưu
giữ tại địa phương phù hợp với lời khai của các đương sự, lời khai của người làm
chứng là ông Hoàng Văn Đ4, bà Trần Thị T3 xác nhận trước đây thửa 216, 217,
219 là đất ao, sau đó ông H đã san lấp thửa đất 216, 217, 219; đến nay các thửa
216, 217, 219 theo sổ sách lưu giữ tại địa phương là đất ở nên cần công nhận các
thửa 216, 217, 219 là đất ở. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 216, 217, 219 là
đất ở và tính theo giá trị đất ở là đúng quy định.
[7.3.7] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Thửa đất số 212, hiện nay
vợ chồng ông B3, bà A đang quản lý sử dụng có diện tích đo đạc theo hiện trạng
là 417,1m², giá trị quyền sử dụng đất 203,1m² x 35.000.000 đồng/m² =
7.108.500.000 đồng; 51,7m² x 25.000.000 đồng/m² = 1.292.500.000 đồng và
162,3 m² đất vườn x 12.000.000 đồng/m² = 1.947.600.000 đồng và sử dụng diện
tích 9,8m² đất san lấp thuộc quyền quản lý của địa phương. Thửa đất 217, hiện
nay ông B3 và bà A quản lý, sử dụng có diện tích đo đạc theo hiện trạng là 165m2,
giá trị quyền sử dụng đất là 165m2 x 35.000.000 đồng/m² = 5.775.000.000 đồng
và quản lý sử dụng diện tích 14,4m2 san lấp thuộc quyền quản lý của địa phương.
Như vậy, giá trị diện tích đất thửa 212, 217 là 16.123.600.000 đồng.
[7.3.8] Trên thửa 212, 217, vợ chồng ông B3 có xây nhà và công trình phụ
trên đất, ông B3 và bà A không yêu cầu giải quyết đối với tài sản trên đất nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7.4] Về công sức san lấp đất ao: Tại cấp sơ thẩm các đương sự không cung
cấp được cụ thể việc san lấp, Toà án cũng không xác minh thu thập giá trị công
sức san lấp mà áng trích công sức quản lý di sản cho ông H, bà Đ 3.000.000.000
đồng tương ứng 120m2 là quá cao so với công sức ông H, bà Đ được hưởng. Tuy
nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông H không yêu cầu giải quyết về công
sức nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về công sức quản lý, tôn tạo
di sản thừa kế của vợ chồng ông H, bà Đ. Tại cấp phúc thầm, ông B3 trình bày
năm 1991, ông đã mua cát san lấp thửa 212 để xây nhà; đến năm 2000, ông đã san
-- 17 of 23 --
18
lấp thửa 217 để xây nhà trọ nên ông yêu cầu tính công sức tôn tạo, quản lý di sản
thừa kế tuy nhiên tại cấp sơ thẩm, vợ chồng ông B3 không yêu cầu tính công sức
tôn tạo, quản lý di sản thừa kế đối với thửa 212, 217 nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm không xem xét, giải quyết do không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm theo
Điều 293. Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7.5] Đối với số tiền 172.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ án, ông B3
trình bày thời điểm chia đất, gia đình ông gồm có 04 khẩu được chia đất gồm cụ
B2, cụ T4, ông B3 và con gái ông B3. Tuy nhiên, ông B3 không xuất trình được
tài liệu chứng minh. Tại cấp sơ thẩm, các đương sự đều thừa nhận số tiền
172.000.000 đồng là tiền bồi thường đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 để lại;
hiện ông B3 đang là người quản lý số tiền trên. Do đó, cần xác định số tiền
172.000.000 đồng bồi thường đất nông nghiệp là di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4
để lại.
[8] Về chia di sản thừa kế: Tổng giá trị di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 đối
với thửa 212, 217 là 16.123.600.000 đồng và số tiền 172.000.000 đồng là
16.295.600.000 đồng nên di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 mỗi người để lại là
8.147.800.000 đồng.
[8.1] Di sản thừa kế của cụ B2 là 8.147.800.000 đồng nên cần chia cho 06
kỷ phần là cụ T4, bà T5, ông H, bà H1, bà T, ông B3, mỗi kỷ phần thừa kế được
hưởng là 1.357.966.667 đồng.
[8.2] Di sản thừa kế của cụ T4 là 8.147.800.000 đồng + 1.357.966.666
đồng = 9.505.766.667 đồng nên cần chia cho 05 kỷ phần là bà T5, ông H, bà H1,
bà T, ông B3, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 1.901.153.333 đồng
[8.3] Như vậy, bà T5, ông H, bà H1, bà T, ông B3 mỗi người được hưởng
là 3.259.120.000 đồng. Bà T5 chết năm 2023 sau thời điểm cụ B2, cụ T4 chết nên
chồng và các con của bà T5 là ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng
Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị T9 được hưởng kỷ phần thừa kế của
bà T5 được hưởng của cụ B2 và cụ T4 là 3.259.120.000 đồng, mỗi người được
hưởng là 651.824.000 đồng.
[8.4] Hiện nay, vợ chồng ông B3, bà A đã xây dựng nhà và tài sản trên thửa
212, 217 và ông B3 đề nghị Tòa án chia thừa kế bằng hiện vật. Quá trình giải
quyết vụ án, ông H, bà H1, bà T, hàng thừa kế thứ nhất của bà T5 đồng ý giao cho
vợ chồng ông B3, bà A quản lý, sử dụng số tiền 172.000.000 đồng là tiền bồi
thường đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 để lại, thửa 212, 217 cùng tài sản gắn
liền với đất và không đề nghị thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế nên ghi nhận sự
tự nguyện trên, giao cho vợ chồng ông B3, bà A quản lý, sử dụng thửa 212, 217
và tài sản trên đất (có sơ đồ kèm theo) và số tiền 172.000.000 đồng.
[9] Về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ
chồng ông H, bà Đ và vợ chồng ông T2, bà D, vợ chồng ông S, bà T3: Ngày
14/9/2007 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông S bà T3 thửa đất
219 có diện tích 150,1 m² trị giá 400.000.000 đồng, ông S đã thanh toán
380.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng cho đến khi có bìa đỏ sẽ giao nốt.
Ngày 10/3/2009 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 bà D một
-- 18 of 23 --
19
phần thửa đất 216 có kích thước chiều rộng 4,15m, chiều dài 16,5m, trị giá
325.000.000 đồng, ông T2 đã thanh toán 315.000.000 đồng, còn lại 10.000.000
đồng đến khi có bìa đỏ sẽ giao nốt. Như vậy, thời hạn thực hiện hợp đồng được
hai bên xác định cho đến khi thực hiện xong thủ tục cấp GCNQSDĐ nên đây là
giao dịch đang được thực hiện. Về nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với quy
định Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy thời
điểm các bên thực hiện việc chuyển nhượng, bị đơn ông H, bà Đ chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và Hợp đồng chuyển nhượng chưa được
công chứng, chứng thực, không tuân thủ về hình thức theo khoản 1 Điều 502 Bộ
luật Dân sự năm 2015, đến nay bên mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện,
không vi phạm quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hai bên đã thỏa
thuận rõ vị trí, kích thước, diện tích, giáp ranh của thửa đất, bên bán là vợ chồng
ông H, bà Đ có quyền sử dụng, định đoạt thửa 216, 219 nên ông bà có quyền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên bán đã giao đất, bên mua đã thực hiện trên
2/3 nghĩa vụ trả tiền và nhận đất, xây nhà ổn định, sinh sống trên đất từ khi mua
đến nay, không có tranh chấp gì. Do đó, cần xác định 02 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà Đ cho vợ chồng ông T2, bà D
và vợ chồng ông S, bà T3 phát sinh hiệu lực theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm
2015. Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là vợ chồng ông T2, bà D, vợ chồng ông S, bà T3 công nhận hiệu lực
02 Hợp đồng chuyển nhượng trên là đúng quy định pháp luật.
[10] Ông H khai thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm
2006, cụ T4 đã cho ông H diện tích 93,2m² (một phần thuộc thửa 212), sau đó ông
đã nhập diện tích 93,2m2 vào thửa 216 và hiện vợ chồng ông H đang quản lý, sử
dụng một phần thửa 216 có diện tích theo đo đạc hiện trạng là 350,4m² đất ở. Do
ông H đã chuyển nhượng một phần diện tích thửa 216 cho vợ chồng ông T2, bà
D, chuyển nhượng toàn bộ thửa 219 cho vợ chồng ông S, bà T3 nên diện tích đất
còn lại 350,4m² đất ở (bao gồm diện tích 93,2m² cụ T4 đã cho ông H), ông H đề
nghị Tòa án giao cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng diện tích 350,4m² đất ở nên
cần chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông H, giao cho ông Trần Văn H và
bà Trần Thị Đ sử dụng diện tích 350,4m² đất ở trị giá 10.781.000.000 đồng và
quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B,
phường L, thành phố Hải Phòng ký hiệu là S2 (có sơ đồ kèm theo). Tạm giao
phần diện tích 11,1m² đất dôi dư ký hiệu S2.1¹ (có sơ đồ kèm theo) cho ông H, bà
Đ sử dụng. Khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất
này, ông H, bà Đ phải có nghĩa vụ chấp hành.
[11] Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCNQSDĐ) của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Tòa án cấp sơ thẩm thu
thập thì thửa đất 212 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 498695
do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng tên bà Hoàng
Thị T4 đứng tên đại diện. Như đã phân tích ở trên, thửa đất 212 là tài sản chung
của cụ B2, cụ T4. Thời điểm cấp GCNQSDĐ cho cụ T4 thì cụ B2 đã chết. Mặc dù
-- 19 of 23 --
20
hồ sơ cấp GCNQSDĐ không có văn bản xác nhận về hàng thừa kế của cụ B2
nhưng GCNQSDĐ cấp cho cụ T4 đứng tên là người đại diện, không phải cấp
riêng cho chủ sử dụng đất là cụ T4 nên không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
ích của các đương sự khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H và các đương sự
không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử
không xem xét, giải quyết.
[12] Tòa cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất 216, 219 là di sản thừa kế của cụ
B2, cụ T4 để lại là vi phạm đánh giá, thu thập chứng cứ không khách quan, toàn
diện và đầy đủ. Mặt khác, bà T5 là người được hưởng thừa kế theo pháp luật của
cụ B2, cụ T4, bà T5 chết sau thời điểm hai cụ chết nên chồng và các con bà T5
được hưởng kỷ phần thừa kế của bà T5, tuy nhiên cấp sơ thẩm chỉ chia thừa kế
cho các con của bà T5 là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của chồng bà T5. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm đã
thẩm định diện tích đất và tài sản trên đất nhưng Quyết định thành lập Hội đồng
định giá và biên bản định giá chỉ định giá giá trị của thửa đất 212, 216, 217, 219
mà không định giá giá trị tài sản trên đất là thiếu sót. Tuy nhiên những vi phạm,
thiếu sót trên không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của
các đương sự nên cần rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm trong việc xác
minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án.
[13] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
bà Trần Thị Đ và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng,
cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về chia di sản thừa kế và phần án phí dân
sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự theo hướng
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn ông H, chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông T2, bà D và ông S, bà T3
[14] Về án phí dân sự sơ thẩm: Hàng thừa kế thứ nhất của bà T5, ông P1,
ông H, ông B3, bà H1, bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa
kế được hưởng. Vợ chồng ông H, bà Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn
bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận.
Tuy nhiên, ông P1, ông H, ông B3, bà H1, bà T, bà Đ là người cao tuổi, có đơn đề
nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông
bà. Bà T5 là người cao tuổi, được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và hàng
thừa kế thứ nhất của bà T5 đã cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho ông B3 (là
người cao tuổi, được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm) nên hàng thừa kế của
bà T5 là chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng
Thị T9 được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí cho bà Trần Thị T3 do yêu cầu độc lập của bà T3 và ông Hoàng Văn S
được chấp nhận.
[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận
nên bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
-- 20 of 23 --
21
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều
309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ và kháng nghị của Viện Kiểm sát
nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng
Căn cứ vào các điều 147, 157, 158, 165 và 166, khoản 2 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 468, 611, 612, 613, 649, 650, 651 và 660 của
Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T về
phân chia di sản thừa kế:
1.1. Xác định di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại là:
- Thửa đất số 212, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc theo hiện trạng là
417,1m², bao gồm 254,8m² đất ở và 162,3 m² đất vườn.
- Thửa đất 217 diện tích đo đạc theo hiện trạng là 165m2 đất ở.
- Số tiền bồi thường đền bù đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 để lại là
172.000.000 đồng
1.2. Về phân chia di sản thừa kế:
- Giao cho ông Trần Văn B3 và bà Hoàng Thị Ngọc A quản lý, sử dụng
diện tích 417,1m² (trong đó có 254,8m² đất ở và 162,3m² đất vườn) có trị giá
10.348.600.000 đồng và quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 212, tờ
bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng ký hiệu là S1 được giới
hạn bởi các điểm A7, A8, A39, A40, A9, A10, A11, A22, A23, A7. Tạm giao
phần diện tích 9,8m² đất dôi dư ký hiệu S11 được giới hạn bởi các điểm A3, A4,
A5, A6, A8, A7, A3 cho ông B3, bà A sử dụng. Khi cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, bà A phải có nghĩa vụ chấp hành.
- Giao cho ông Trần Văn B3 và bà Hoàng Thị Ngọc A quản lý, sử dụng
diện tích 165m² đất ở có trị giá 5.775.000.000 đồng và quyền sở hữu các tài sản,
công trình trên thửa số 217, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải
Phòng ký hiệu là S4 được giới hạn bởi các điểm A33, A34, A35, A36, A33. Tạm
giao phần diện tích 14,4 m² đất dôi dư ký hiệu S41 được giới hạn bởi các điểm
A33, A36, A31, A32, A33 cho ông B3, bà A sử dụng. Khi cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, bà A phải có nghĩa vụ chấp
hành (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho ông Trần Văn B3 số tiền 172.000.000 đồng (ông B3 đang quản
lý).
-- 21 of 23 --
22
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H:
2.1. Công nhận một phần thửa đất 216, diện tích đo đạc theo hiện trạng là
350,4m² đất ở tại thửa đất số 216, tờ bản đồ số 33 tại khu B, phường L, thành phố
Hải Phòng thuộc quyền sử dụng đất của vợ chồng ông H, bà Đ.
2.2. Giao cho ông Trần Văn H và bà Trần Thị Đ sử dụng diện tích 350,4m²
đất ở (bao gồm cả diện tích 93,2m2 cụ T4 đã cho ông H), trị giá 10.781.000.000
đồng và quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V,
khu B, phường L, thành phố Hải Phòng ký hiệu là S2 được giới hạn bởi các điểm
A24, A25, A21, A23, A22, A11, A12, A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19,
A20, A24. Tạm giao phần diện tích 11,1m² đất dôi dư ký hiệu S2¹ được giới hạn
bởi các điểm A1, A2, A25, A24, A1 cho ông H, bà Đ sử dụng. Khi Cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông H, bà Đ phải có nghĩa
vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự được giao đất có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm
quyền thực hiện trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định pháp luật.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị D:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa
ông Trần Văn H, bà Trần Thị Đ và ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Thị D được lập
ngày 10/3/2009 đối với diện tích 64,4m² đất ở trị giá 2.254.000.000 đồng và
quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B,
phường L, thành phố Hải Phòng ký hiệu là S3 được giới hạn bởi các điểm A25,
A7, A23, A21, A25 là hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 4,8m² đất dôi dư ký
hiệu S3¹ được giới hạn bởi các điểm A3, A7, A25, A2, A3 cho ông T2, bà D sử
dụng. Khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông
T2, bà D phải có nghĩa vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hoàng Văn S, bà Trần Thị T3: Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa ông
Trần Văn H, bà Trần Thị Đ và ông Hoàng Văn S, bà Trần Thị T3 được lập ngày
14/9/2007 đối với diện tích 150,9m² đất ở trị giá 6.337.800.000 đồng và quyền sở
hữu các tài sản, công trình trên thửa số 219, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng ký hiệu là S5 được giới hạn bởi các điểm A35, A36, A37,
A38, A35 là hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 32,3m² đất dôi dư ký hiệu S5¹
được giới hạn bởi các điểm A31, A36, A37, A38, A26, A27, A28, A29, A30, A31
cho bà Trần Thị T3 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Văn S là bà Trần Thị
T3, cụ Nguyễn Thị Đ1, anh Hoàng Trung Đ2, anh Hoàng Tuấn A1 sử dụng. Khi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông S, bà T3
phải có nghĩa vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông
H, ông B3, bà H1, bà T, bà Đ2, ông P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2,
chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị Tuyết . Trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí cho bà Trần Thị T3 đã nộp theo Biên lai số 0003084 ngày 12/4/2024 tại Chi
-- 22 of 23 --
23
cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 8 – Hải Phòng).
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 8 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 8 - Hải Phòng;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lưu Văn Tỉnh
-- 23 of 23 --