Đất đai năm 2013; Điều 18, Điều 27, Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 31 Luật
Khiếu nại năm 2011;
Căn cứ các Điều 7, 10, 12, 18, 21 và Điều 22
Thông tư số 07/2013/TT-TTCP
ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ; khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều
6
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Quyết định số
-- 20 of 36 --
21
75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q;
Quyết định số
11/2020/QĐ-UBND ngày 08/6/2020 của UBND tỉnh Q; Quyết định số 213/QĐ-
UBND ngày 29/3/2023 của UBND tỉnh Q;
Quyết định số 46/2022/QĐ-UBND
ngày 02/12/2022 của UBND tỉnh Q;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Tấn H về việc yêu cầu
Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 9172/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 của UBND huyện T
về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H,
ông Võ Tấn C kê khai để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự
án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây
dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.
- Hủy Quyết định số 9458/QĐ-UBND ngày 22/12/2023 của UBND huyện T
về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 8) và tái định cư (đợt 4) chi tiết cho bà Nguyễn
Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 để
thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng
Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ
cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.
- Hủy Quyết định số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc cưỡng chế thu hồi đất cho bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn
P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc
dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-
2025.
- Hủy Quyết định số 3054/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc điều chỉnh thời gian quyết định cưỡng chế thu hồi đất của bà
Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C tại Quyết
định số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 của Chủ tịch UBND huyện T.
- Hủy Quyết định số 3063/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc giải quyết khiếu nại của ông Võ Tấn Huỳnh .
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/9/2025, người khởi kiện ông Võ Tấn H kháng cáo đề nghị Toà án
cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm xét
xử lại vụ án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
-- 21 of 36 --
22
- Người khởi kiện ông Võ Tấn H và người đại diện theo uỷ quyền là ông Vũ
Hồng A vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu
quan điểm giải quyết vụ án cho rằng: Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2025/HC-
ST ngày 07 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết
định xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Tấn H là có căn cứ, đúng pháp
luật. Kháng cáo của ông Võ Tấn H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ
thẩm để chuyển hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án là không có căn
cứ. Do đó, đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, bác
yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Tấn H và giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật,
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về việc vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi
kiện ông Võ Tấn H và đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện ông Vũ Hồng
A; người đại diện theo pháp luật của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của
người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chủ tịch UBND xã N;
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ đất chi nhánh
khu vực T, ông Võ Văn P3; những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị Kim N, bà Ngô Thị Kim M, ông Võ Tấn C, bà Võ Thị P, bà Võ Thị
P1 và bà Võ Thị P2, đồng thời những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng
của bà Võ Thị T1 có người đại diện theo uỷ quyền là ông Vũ Hồng A đều vắng
mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành
chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với các đương sự.
[1.2] Về thời hiệu và thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ
thẩm, ông Võ Tấn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Quyết định số 9172/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 của UBND huyện T
về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H,
ông Võ Tấn C kê khai để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự
án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây
dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.
- Hủy Quyết định số 9458/QĐ-UBND ngày 22/12/2023 của UBND huyện T
về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 8) và tái định cư (đợt 4) chi tiết cho bà Nguyễn
Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 để
-- 22 of 36 --
23
thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng
Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ
cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.
- Hủy Quyết định số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc cưỡng chế thu hồi đất cho bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn
P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc
dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-
2025.
- Hủy Quyết định số 3054/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc điều chỉnh thời gian quyết định cưỡng chế thu hồi đất của bà
Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C tại Quyết
định số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 của Chủ tịch UBND huyện T.
- Hủy Quyết định số 3063/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch UBND
huyện T về việc giải quyết khiếu nại của ông Võ Tấn Huỳnh .
Các quyết định hành chính nêu trên là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính,
còn thời hiệu khởi kiện, ông Võ Tấn H được quyền khởi kiện và Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi thụ lý, giải quyết theo trình tự sơ thẩm là đúng thẩm quyền giải
quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản
1 Điều 115; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[1.3] Về thời hạn kháng cáo và chủ thể kháng cáo: Ngày 07/9/2025, Toà án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm và ban hành Bản án hành chính sơ thẩm
số 33/2025/HC-ST cùng ngày. Ngày 20/9/2025, người khởi kiện ông Võ Tấn H
kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để chuyển hồ sơ cho
Toà án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án. Kháng cáo của ông H là đúng chủ thể và còn
trong hạn luật định, đã được Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng
thụ lý giải quyết và đưa ra xét xử tại phiên toà hôm nay.
[2]. Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Tấn H, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Đối với nội dung Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông
Võ Tấn H về việc: Hủy Quyết định số 9172/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 của
UBND huyện T về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn
P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C kê khai để thực hiện Tiểu dự án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh
Quảng Ngãi thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía
Đông giai đoạn 2021-2025 và Hủy Quyết định số 9458/QĐ-UBND ngày
22/12/2023 của UBND huyện T về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 8) và tái định cư
(đợt 4) chi tiết cho bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H,
-- 23 of 36 --
24
ông Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi
thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai
đoạn 2021-2025; thấy rằng:
[2.1.1] Xét nguồn gốc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N, huyện T, tỉnh
Quảng Ngãi (nay là xã N, tỉnh Quảng Ngãi), thấy rằng:
[2.1.1.1] Nguyên trước đây thửa đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N, huyện T,
tỉnh Quảng Ngãi có nguồn gốc là do vợ chồng ông Võ L tạo lập và sử dụng. Sau
đó để lại cho ông Võ Ngọc A1 và bà Nguyễn Thị M1 (là cha mẹ của người khởi
kiện) quản lý, sử dụng. Trong quá trình sử dụng, theo bản đồ đo vẽ thực hiện Chỉ
thị 299/TTg ngày 18/10/1980 của Chính phủ thuộc thửa đất số 317, tờ bản đồ địa
chính số 8, loại đất T (Đất thổ cư); nhưng không đứng tên trong sổ đăng ký ruộng
đất (Sổ mẫu 5b).
[2.1.1.2] Theo bản đồ đo vẽ năm 1993 thuộc thửa đất số 860, tờ bản đồ số
33, diện tích 3.729m2, loại đất ONT+BHK do ông Võ Ngọc A1 có đăng ký kê
khai trong sổ mục kê ruộng đất tại trang số 14 và được UBND huyện T cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/12/1999 đối với thửa đất số 860, tờ bản
đồ số 33, diện tích 3.850m2 (200m2 đất T và 3.650m2 đất V).
[2.1.1.3] Năm 2008, thửa đất số 860, tờ bản đồ số 33, xã N (bản đồ năm
1993), diện tích 3.729m2 được cấp GCNQSD đất cho bà Nguyễn Thị M1 theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00822; do UBND huyện T cấp ngày
31/12/2008; Mục đích sử dụng: Đất ở 200m2; Đất BHK 3.529m2.
[2.1.1.4] Năm 2018, bà Nguyễn Thị M1 được Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Q cấp đổi GCNQSD đất theo bản đồ đo vẽ 2010 tại thửa đất số 17, tờ bản đồ
số 17, diện tích 3.753,4m2, mục đích sử dụng: Đất ở 200m2; Đất BHK 3.553,4m2,
có số vào sổ CS 16759.
[2.1.2] Xét về quá trình thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1, thấy rằng:
[2.1.2.1] Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông
giai đoạn 2021-2025 đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư tại
Nghị
quyết số 44/2022/QH15 ngày 11/01/2022. Ngày 11/02/2022, Chính phủ ban hành
Nghị quyết số 18/NQ-CP để triển khai thực hiện
Nghị quyết số 44/2022/QH15
ngày 11/01/2022 của Quốc hội. Ngày 25/5/2022, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Công văn số 458/TTg-CN về phê duyệt Khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư Dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, thuộc dự án xây dựng công
trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025.
-- 24 of 36 --
25
[2.1.2.2] Ngày 13/7/2022, Bộ trưởng Bộ G ban hành Quyết định số 906/QĐ-
BGTVT về việc phê duyệt Dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, thuộc dự án
xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025.
[2.1.2.3] Ngày 05/8/2022, Chủ tịch UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số
1044/QĐ-UBND về việc phê duyệt Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự
án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây
dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025,
địa điểm: xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.
[2.1.2.4] Ngày 04/5/2022, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số
1734/QĐ-UBND về việc ban hành kế hoạch thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư Dự án đường bộ cao tốc Quảng Ngãi - H, đoạn qua huyện T.
[2.1.2.5] Ngày 06/9/2022, UBND huyện T ban hành Thông báo thu hồi đất
số 1250/TB-UBND đối với bà Nguyễn Thị M1 (Bút lục số 348). Ngày 08/9/2022,
UBND xã N phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T và các thành phần
liên quan tiến hành niêm yết công khai thông báo thu hồi đất nêu trên tại UBND
xã N, nhà Văn hóa thôn A2 và kết thúc thời hạn niêm yết công khai theo đúng quy
định; đồng thời công khai thông báo thu hồi đất trên Đài truyền thanh xã N.
[2.1.2.6] Ngày 14/9/2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T ra Thông
báo số 65/TB-TTPTQĐ về kiểm kê, đo đạc hiện trạng để xác lập hồ sơ bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án. Trong các ngày
14/9/2022, ngày 24/9/2022 và ngày 27/9/2022, bà Võ Thị T1, ông Võ Văn P3,
ông Võ Tấn C, bà Ngô Thị Kim M, ông Võ Tấn H và bà Nguyễn Thị Kim N (đại
diện cho gia đình bà M1) tự kê khai đất đai và tài sản thiệt hại thuộc phạm vi thu
hồi đất Dự án xây dựng công trình đường C - N phía Đông giai đoạn 2021 - 2025,
đoạn qua địa bàn xã N, huyện T. Các ông bà trên kê khai thửa đất 17, tờ bản đồ
số 17, diện tích sử dụng 3.753,4m2, diện tích bị thu hồi 2.563,1m2, loại đất
ONT+BHK (bút lục số 261). Ngoài ra ông, bà còn kê khai một số cây cối, hoa
màu tại các biên bản kiểm kê nêu trên (bút lục số 316-294-280-264) và các phiếu
kiểm kê cây trồng, nhà, vật kiến trúc, mồ mả và tài sản khác (bút lục số 319-288-
275-268).
[2.1.2.7] Ngày 15/12/2023, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định
số 9172/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ
Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C kê khai để thực hiện Tiểu dự án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng
Ngãi thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông
giai đoạn 2021-2025, theo đó đã thu hồi diện tích 2.563m2, 200m2 đất ONT+
2.363m2 đất BHK thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N, huyện T (nay là xã
-- 25 of 36 --
26
N, tỉnh Quảng Ngãi). Quyết định này được ban hành đúng trình tự, thủ tục, nội
dung phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.1.3] Xét nội dung người khởi kiện cho rằng UBND huyện T thu hồi đất
của bà Nguyễn Thị M1 là không đúng loại đất, thấy rằng:
[2.1.3.1] Về việc đăng ký kê khai thửa đất theo hồ sơ thực hiện Chỉ thị
299/TTg: Theo bản đồ đo vẽ thực hiện theo Chỉ thị 299/TTg, thửa đất 17, tờ bản
đồ số 17, xã N được biến động từ thửa đất số 317, tờ bản đồ địa chính số 8, loại
đất T (Đất thổ cư) nhưng không ai đứng tên trong sổ đăng ký ruộng đất (Sổ mẫu
5b). Theo bản đồ đo vẽ năm 1993 thuộc thửa đất số 860, tờ bản đồ số 33, diện tích
3.729m2, loại đất ONT+BHK do ông Võ Ngọc A1 có đăng ký kê khai trong sổ
mục kê ruộng đất tại trang số 14. Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Sổ
mục kê này được Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N ký ngày 19/5/1989, tức sau ngày
18/12/1980; đồng thời, thửa đất không có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất (sổ 5b);
Bảng tổng hợp danh sách trong Sổ mục kê này là một phần tài liệu của hồ sơ địa
chính, không phải là Bảng tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do
UBND xã lập theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 18
Nghị định 43/2014/NĐ-
CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai như ý
kiến của đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện. Do vậy, đây không phải là
một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định khoản 1 Điều 100
Luật Đất đai năm 2013; Điều 18
Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ.
[2.1.3.2] Hơn nữa, theo Điều 15 của
Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày
27/01/2015 của Bộ T2 quy định thì bản Trích lục Đ1 Nam Trung Kỳ Chánh phủ
do người khởi kiện cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án không phải là một
trong các loại giấy tờ khác chứng minh việc tạo lập nhà ở, đất ở nay được UBND
cấp tỉnh nơi có đất ở công nhận bởi vì tại thời điểm thu hồi đất để thực hiện Dự
án thì đối với Bản trích lục Đại Nam Trung Kỳ Chánh P5, UBND tỉnh Q không
có văn bản nào hướng dẫn hoặc công nhận là một trong các loại giấy tờ do cơ
quan có thẩm quyền thuộc chế cũ cấp cho người sử dụng đất.
[2.1.3.3] Từ những viện dẫn trên, việc người khởi kiện cho rằng nguồn gốc
thửa đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N có một trong các loại giấy theo quy định tại
các điểm e, g khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 18
Nghị định
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ là không có căn cứ.
[2.1.3.4] Ngoài ra, thửa đất trên từ khi được UBND huyện T cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Võ Ngọc A1 ngày 23/12/1999 với diện
tích 3.850m2 (Trong đó 200m2 đất T và 3.650m2 đất V), cho đến khi bà Nguyễn
Thị M1 (vợ ông Võ Ngọc A1) được UBND huyện T cấp GCNQSD đất ngày ngày
31/12/2008 với diện tích 3.729m2 (Trong đó 200m2 đất ở và 3.529m2 đất BHK)
-- 26 of 36 --
27
và sau này bà M1 được Sở T cấp đổi GCNQSD đất với diện tích 3.753,4m2 (Trong
đó 200m2 đất ở và 3.553,4m2 đất BHK). Quá trình quản lý, sử dụng đất và đăng
ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua các lần thì bà Nguyễn Thị M1
hay các con của bà đều không thắc mắc, khiếu nại gì về loại đất được cấp.
[2.1.3.5] Việc tăng, giảm diện tích của thửa đất nêu trên theo người khởi kiện
trình bày do nhu cầu cá nhân, trước đây ông Võ Ngọc A1 có chuyển nhượng cho
các ông: Nguyễn Thái L2, Phạm Ngọc N1 và ông Võ Tấn K một phần diện tích
thửa đất và được tách ra thành các thửa đất số 40, 41 và 70 trên cùng tờ bản đồ số
17 xã N (bản đồ VLAP 2010) cho nên diện tích còn lại của thửa số 17, tờ bản đồ
số 17, xã N (bản đồ VLAP 2010) hiện nay được cấp theo GCNQSDĐ là
3.753,4m2.
[2.1.3.6] Theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất (bút lục số
326) và các biên bản kiểm kê đất thể hiện diện tích đất bị thu hồi của thửa đất số
17 nêu trên là 2.563,1m2, diện tích còn lại sau khi thu hồi là 1.190,4m2.
[2.1.3.7] Tại thời điểm thu hồi đất để thực hiện dự án, bà Nguyễn Thị M1 đã
chết, ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C, bà Võ Thị T1 và những
người thừa kế hợp pháp của bà M1 là chủ sử dụng đất đối với thửa đất số 17, tờ
bản đồ số 17, xã N, diện tích với diện tích 3.753,4m2 (Trong đó 200m2 đất ở và
3.553,4m2 đất BHK) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ngày 17/4/2018. Do đó, UBND huyện T ban hành Quyết
định số 9172/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 về việc việc thu hồi đất của bà Nguyễn
Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C kê khai là đúng loại
đất, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 11, Điều 62, Điều
63, Điều 66, Điều 67, Điều 69, Điều 103 Luật Đất đai năm 2013;
Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật
Đất đai.
[2.1.4] Xét quá trình bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thấy rằng:
[2.1.4.1] Ngày 17/11/2023 và ngày 21/11/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất
huyện T ban hành Thông báo số 113/TB-TTPTQĐ và Thông báo số 115/TB-
TTPTQĐ về việc niêm yết công khai phương án dự kiến bồi thường, hỗ trợ; sau
đó Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T đã phối hợp với các Hội đoàn thể, UBND
xã N tiến hành niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ; họp lấy ý kiến
về công tác niêm yết phương án và kết thúc niêm yết công khai phương án bồi
thường, hỗ trợ Dự án theo quy định.
[2.1.4.2] Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T lập Tờ trình về việc thẩm
định phương án bồi thường, hỗ trợ; ngày 07/12/2023, Ban Q2 đã ban hành Công
văn số 2405/BQLDA2-PID6 về việc chấp thuận Phương án bồi thường, hỗ trợ (Đ)
và tái định cư (Đợt 4); ngày 15/12/2023, UBND huyện T ban hành Quyết định số
-- 27 of 36 --
28
9164/QĐ-UBND và Quyết định số 9162/QDD-UBND về việc phê duyệt phương
án, dự toán bồi thường, hỗ trợ (đợt 8 và đợt 4) để giải phóng mặt bằng thực hiện
Dự án: Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng
Ngãi - H thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía
Đông, giai đoạn năm 2021 - 2025.
[2.1.4.3] Ngày 22/12/2023, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định
số 9458/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 8) và tái định cư (đợt 4) chi
tiết cho bà Nguyễn Thị M1 (chết, ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C
và bà Võ Thị T1 kê khai) để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, thuộc dự án xây dựng công trình đường
bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, địa điểm: xã N, huyện T,
tỉnh Quảng Ngãi. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 6.000.637.830 đồng, gồm:
Trong đó bồi thường đất: 499.250.200 đồng; Hỗ trợ bằng 50% giá đất ở:
2.363.100.000 đồng; Bồi thường, hỗ trợ nhà, vật khiến trúc, công trình phục vụ
đời sống, sản xuất, công trình khác và mồ mả: 3.066.012.341 đồng; Bồi thường
về cây trồng: 44.687.720 đồng; Các khoản hỗ trợ: 27.587.569 đồng.
[2.1.4.4] Ngày 08/4/2024, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành Quyết định số
1943/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ chi tiết (đợt 9) cho bà Nguyễn Thị
M1 (chết, ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 kê khai)
bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ đợt 8. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ
sung là 127.142.715 đồng. Ngày 31/7/2024, Ủy ban nhân dân huyện T ban hành
Quyết định số 4103/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 10) và tái định cư
(đợt 6) chi tiết cho bà Nguyễn Thị M1 (chết, ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông
Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 kê khai) điều chỉnh, bổ sung phương án bồi thường,
hỗ trợ đợt 8. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ bổ sung là 28.654.725 đồng. Đối với
các quyết định này, người khởi kiện đồng ý và không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên Toà án cấp sơ thẩm không xem xét là có căn cứ.
[2.1.5] Xét về đơn giá bồi thường đất nông nghiệp, thấy rằng:
[2.1.5.1] Theo người khởi kiện, UBND huyện T bồi thường cho gia đình bà
M1 đơn giá đất là không đúng pháp luật, hệ số điều chỉnh giá đất thấp, không
đúng quy định tại
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; UBND huyện T không tổ
chức thành lập Hội đồng thẩm định giá đất để tư vấn cho UBND quyết định giá
đất cụ thể để bồi thường cho phần diện tích đất của bà M1 và không tính chi phí
san lấp mặt bằng. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.5.2] Trên cơ sở loại đất bị thu hồi, Ủy ban nhân dân huyện T khi triển
khai thực hiện Dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H thuộc dự án xây dựng công
trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 - 2025, cơ chế chính
-- 28 of 36 --
29
sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện theo Khung chính sách về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số
458/TTg-CN ngày 25/5/2022 và
Quyết định số 75/2021/QĐ-UBND ngày
14/12/2021 của UBND tỉnh Q ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất áp dụng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
[2.1.5.3] Theo quy định tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013, UBND cấp tỉnh
là cơ quan có thẩm quyền ban hành Bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể.
[2.1.5.4] Dự án nêu trên được bắt đầu triển khai thực hiện trong năm 2022
nên ngày 29/3/2023, UBND tỉnh Q ra Quyết định số 213/QĐ-UBND về việc
thống nhất hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể tính tiền bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh; trong
đó, đã thống nhất hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể tính tiền bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự
án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021 -
2025, địa điểm: xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi đối với đất ở tại nông thôn thuộc
vị trí A, khu vực 3 tuyến đường đoạn qua xã N và xã N là 1,00 lần.
[2.1.5.5] Cụ thể, ngày 08/6/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Q có
Quyết định số
11/2020/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về Bảng giá các loại đất trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi áp dụng cho thời kỳ 05 năm (2020 - 2024). Theo đó, thửa
đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N của bà Nguyễn Thị M1 đối với đất ở tại nông thôn
thuộc khu vực 1, vị trí 3 có đơn giá là 2.000.000 đồng/m2; đối với đất BHK thuộc
vị trí 1 có đơn giá 42.000 đồng/m2.
[2.1.5.6] Việc UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 213/QĐ-UBND ngày
29/3/2023 là trên cơ sở kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể
trên địa bàn tỉnh. Như vậy, Dự án trên được UBND tỉnh Q thống nhất hệ số điều
chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể tính tiền bồi thường trước khi UBND tỉnh
Q ban hành Quyết định số 1252/QĐ-UBND ngày 15/11/2023 về việc ủy quyền
quyết định giá đất cụ thể, quyết định thành lập Hội đồng thẩm định giá đất. Do
đó, UBND huyện T áp dụng Bảng giá đất tại
Quyết định số 11/2020/QĐ-UBND
ngày 08/6/2020 và hệ số điều chỉnh tại Quyết định số 213/QĐ-UBND ngày
29/3/2023 để tính tiền bồi thường về đất là phù hợp với quy định tại Điều 114
Luật Đất đai năm 2013.
[2.1.5.7] Đối chiếu với các quy định trên, thửa đất của bà Nguyễn Thị M1 bị
thu hồi 200m2 đất ONT và 2.363,1m2 đất BHK, hệ số điều chỉnh 1,00 nên Ủy ban
nhân dân huyện T bồi thường về đất với số tiền 499.250.200 đồng tại Quyết định
số 9458/QĐ-UBND ngày 22/12/2023 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.1.6] Xét về việc không tính chi phí san lấp mặt bằng, thấy rằng:
-- 29 of 36 --
30
[2.1.6.1] Theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật Đất đai năm 2013: Các
trường hợp không được bồi thường về đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư
vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm đất được Nhà nước giao không
thu tiền sử dụng đất, trừ trường hợp đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho hộ
gia đình, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 54 của Luật Đất đai; đất được Nhà
nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn
tiền sử dụng đất; đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê
trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ
trường họp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với
người có công với cách mạng; đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã,
phường, thị trấn; đất nhận khoán để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng
thủy sản, làm muối.
[2.1.6.2] Theo quy định tại khoản 1 Điều 3
Nghị định số 47/2014/NĐ-CP
ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất đã quy định: Đối tượng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất
còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là các trường hợp quy định tại Điều 76
của Luật Đất đai.
[2.1.6.3] Như vậy, trường hợp của bà Nguyễn Thị M1 khi thu hồi đất đã được
bồi thường, hỗ trợ về đất nên không thuộc trường hợp được bồi thường chi phí
đầu tư vào đất còn lại (bao gồm cả chi phí san lấp mặt bằng). Do đó, người khởi
kiện yêu cầu bồi thường chi phí san lấp mặt bằng là không có căn cứ.
[2.1.6.4] Từ các lẽ trên, Ủy ban nhân dân huyện T bồi thường cho gia đình
bà Nguyễn Thị M1 diện tích 200m2 loại đất ONT và 2.363,1m2 đất BHK là đúng
quy định tại Điều 74, Điều 75, Điều 76, Điều 77 Luật Đất đai năm 2013. Ông Võ
Tấn H yêu cầu UBND huyện T phải bồi thường toàn bộ diện tích 2.563,1m2 đất ở
(ONT) là không có căn cứ, không phù hợp với quy định của pháp luật.
[2.1.7] Xét đối với các khoản bồi thường về nhà ở, công trình, vật kiến trúc,
cây trồng, hoa màu và các khoản hỗ trợ, thấy rằng:
[2.1.7.1] Người khởi kiện cho rằng không tính tiền bồi thường công trình,
kiến trúc xây dựng trên phần đất bị thu hồi mà UBND huyện T cho là xây dựng
trên đất BHK. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1.7.2] Việc xây dựng công trình, vật kiến trúc trên đất BHK được xem là
tài sản tạo lập trái với quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 92
Luật Đất đai năm 2013 nên không được tính toán bồi thường, chỉ được hỗ trợ theo
quy định tại khoản 16 Điều 18
Quyết định số 75/2021/QĐ-UBND ngày
14/12/2021 của UBND tỉnh Q.
-- 30 of 36 --
31
[2.1.7.3] Dựa vào các Bảng tự kê khai đất đai và tài sản bị thiệt hại thuộc
phạm vi thu hồi đất để thực hiện Dự án, các phiếu kiểm kê cây trồng, nhà, vật kiến
trúc, mồ mả và tài sản khác và biên bản kiểm kê đất đai, tài sản bị thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi đất, B xác nhận năm xây dựng nhà, vật kiến trúc, công trình xây
dựng khác và mồ mả của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; các biên bản xác minh,
kiểm tra khối lượng tài sản của hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dự án thể
hiện hiện trạng trên thửa đất số 17 có nhiều nhà ở, công trình trên đất của các ông,
bà không được xem xét bồi thường, hỗ trợ cụ thể như sau:
- Nhà cấp IVA và cấp IVC của ông Võ Tấn H được xác định xây dựng trên
đất BHK vào năm 2011. Căn cứ khoản 16, Điều 18
Quyết định số 75/2021/QĐ-
UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q thì được tính hỗ trợ 40% giá trị nhà.
- Các căn nhà cấp IVC của bà Nguyễn Thị Kim N được xác định xây dựng
trên đất BHK vào năm 2020 và 2021. Căn cứ khoản 16, Điều 18
Quyết định số
75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q thì không được tính hỗ
trợ.
- Nhà cấp IVC của ông Võ Tấn C và bà Ngô Thị Kim M được xác định xây
dựng trên đất BHK vào năm 2021. Căn cứ khoản 16, Điều 18
Quyết định số
75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q thì không được tính hỗ
trợ.
- Nhà vệ sinh của ông Võ Tấn P4 đã được tính bồi thường, hỗ trợ và phê
duyệt bổ sung tại Phương án đợt 9 tại Quyết định số 1739/QĐ-UBND ngày
27/3/2024 của UBND huyện T.
[2.1.7.4] Vì vậy việc bồi thường, hỗ trợ về nhà cửa, vật kiến trúc, cây trồng
cho các hộ nêu trên đảm bảo theo
Quyết định 46/2022/QĐ-UBND ngày
02/12/2022 của UBND tỉnh Q;
Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ;
Quyết định số 75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh
Q;
Quyết định số 48/2022/QĐ-UBND ngày 13/12/2022 ban hành đơn giá cây
trồng để thực hiện việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi trong năm 2023 thì gia đình bà M1 áp được bồi thường, hỗ trợ nhà,
vật kiến trúc, công trình phục vụ đời sống, sản xuất và công trình khác và cây
trồng tại các Mục II, III, IV Bảng tổng hợp giá trị bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư là đúng quy định pháp luật.
[2.1.8] Xét yêu cầu bố trí tái định cư, ông Võ Tấn H yêu cầu UBND huyện
T phải bố trí đất tái định cư cho gia đình ông 05 lô đất tái định cư, thấy rằng:
[2.1.8.1] Trên cơ sở nội dung các quyết định thu hồi đất, quyết định bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư nêu trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 20
Quyết
định số 75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q và theo xác nhận
của UBND xã N thì hộ chính (bà Nguyễn Thị M1 đã chết) và các người con của
-- 31 of 36 --
32
bà M1 đã tách hộ (không có đăng ký thường trú trong hộ khẩu của bà M1) tại thời
điểm ban hành Thông báo thu hồi đất. Đối chiếu với quy định tại khoản 4 Điều
20
Quyết định số 75/2021/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND tỉnh Q thì
không đủ điều kiện tách hộ (hộ phụ) để xem xét bố trí cấp đất tái định cư.
[2.1.8.2] Do đó, gia đình bà Nguyễn Thị M1 được giao 01 lô đất tái định cư
có ký hiệu TDC3:11, diện tích 299,8m2 với mức giá 400.000 đồng/m2 là đúng quy
định và đảm bảo đầy đủ quyền lợi.
[2.1.9] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng việc ông Võ
Tấn H yêu cầu Tòa án: Hủy Quyết định số 9172/QĐ-UBND ngày 15/12/2023 của
UBND huyện T về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn
P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C kê khai để thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi
thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc-Nam phía Đông giai đoạn
2021-2025 và Quyết định số 9458/QĐ-UBND ngày 22/12/2023 của UBND huyện
T về việc bồi thường, hỗ trợ (đợt 8) và tái định cư (đợt 4) chi tiết cho bà Nguyễn
Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C và bà Võ Thị T1 để
thực hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng
Ngãi - H, đoạn qua tỉnh Quảng Ngãi thuộc dự án xây dựng công trình đường bộ
cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 là không có căn cứ để chấp
nhận.
[2.2] Xét nội dung Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ
Tấn H về việc yêu cầu hủy Quyết định số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 về
việc cưỡng chế thu hồi đất và Quyết định số 3054/QĐ-UBND ngày 31/5/2024
của Chủ tịch UBND huyện T về việc điều chỉnh thời gian quyết định cưỡng chế
thu hồi đất đối với hộ bà Nguyễn Thị M1; thấy rằng:
[2.2.1] Ngày 23/12/2023, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T phối hợp với
UBND xã N và hộ dân có đất bị thu hồi để chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ thực
hiện Tiểu dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án thành phần đoạn Quảng
Ngãi - H thuộc Dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía
Đông, giai đoạn năm 2021 - 2025.
[2.2.2] Ngày 26/01/2024 và ngày 24/02/2024, Trung tâm Phát triển quỹ đất
huyện T vận động hộ gia đình bà Nguyễn Thị M1 để nhận tiền bồi thường, hỗ trợ,
thu dọn tài sản, bàn giao diện tích đất thu hồi để thực hiện Dự án nêu trên nhưng
hộ bà M1 vẫn không thống nhất nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và không thống nhất
bàn giao mặt bằng.
[2.2.3] Ngày 29/01/2024, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện T đã có Tờ
trình số 63/TTr-TTPTQĐ về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi đất đối
với gia đình bà Nguyễn Thị M1. Cùng ngày, UBND xã N có Báo cáo số 34/BC-
-- 32 of 36 --
33
UBND về việc vận động các hộ gia đình, cá nhân nhận tiền bồi thường, hỗ trợ để
bàn giao mặt bằng thực hiện dự án.
[2.2.4] Trên cơ sở báo cáo của UBND xã N, tờ trình của Trung tâm phát triển
quỹ đất huyện T. Ngày 27/02/2024, Chủ tịch UBND huyện T đã ban hành Quyết
định số 949/QĐ-UBND về cưỡng chế thu hồi đất đối với bà Nguyễn Thị M1
(chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C.
[2.2.5] Ngày 28/02/2024, UBND xã N niêm yết Quyết định số 949/QĐ-
UBND về cưỡng chế thu hồi đất tại trụ sở UBND xã, Nhà văn hóa thôn A2, xã N
và bàn giao quyết định này cho đại diện hộ gia đình bà Nguyễn Thị M1 tại nhà
ông Võ Văn P3.
[2.2.6] Ngày 31/5/2024, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số
3054/QĐ-UBND về việc điều chỉnh thời gian cưỡng chế thu hồi đất đối với hộ bà
Nguyễn Thị M1.
[2.2.7] Như vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T đã ban hành Quyết định
số 949/QĐ-UBND ngày 27/02/2024 về cưỡng chế thu hồi đất đối với với bà
Nguyễn Thị M1 (chết), ông Võ Văn P3, ông Võ Tấn H, ông Võ Tấn C và Quyết
định số 3054/QĐ-UBND về việc điều chỉnh thời gian cưỡng chế thu hồi đất đối
với hộ bà Nguyễn Thị M1 là đúng quy định tại Điều 71 Luật Đất đai. Ông Võ Tấn
H khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định này là không có căn cứ.
[2.3] Đối với nội dung Toà án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ
Tấn H yêu cầu hủy Quyết định số 3063/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch
UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại của ông Võ Tấn H, thấy rằng:
[2.3.1] Về trình tự, thủ tục ban hành:
[2.3.1.1] Ông Võ Tấn H (đại diện cho gia đình bà Nguyễn Thị M1) không
đồng ý với quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
trên cho gia đình bà M1 nên ngày 18/01/2024 ông gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch
UBND huyện T.
[2.3.1.2] Ngày 26/3/2024, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Thông báo số
222/TB-UBND về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Võ Tấn Huỳnh
. Ngày 31/5/2024, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 3063/QĐ-
UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của ông Võ Tấn H là đúng thẩm quyền
theo quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011, Điều 29 Luật Tổ chức chính
quyền địa phương năm 2015.
[2.3.1.3] Sau khi thụ lý đơn khiếu nại, Tổ xác minh nội dung khiếu nại tiến
hành thẩm tra, xác minh, báo cáo nội dung xác minh và tổ chức đối thoại với
người khiếu nại nhưng không thành. Do đó, Chủ tịch UBND huyện T ban hành
Quyết định giải quyết nại lần đầu số 3063/QĐ-UBND ngày 31/5/2024 là đúng
-- 33 of 36 --
34
trình tự, thủ tục quy định tại Điều 27, Điều 29, Điều 30 và Điều 31 Luật Khiếu
nại năm 2011; các Điều 7, 10, 12, 18, 21 và Điều 22
Thông tư số 07/2013/TT-
TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ; Điều 1
Thông tư số
02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung
một số điều của
Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013;
Nghị định số
124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại. Tuy nhiên, về thời hạn giải quyết khiếu nại
theo quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại là chậm 20 ngày (thụ lý từ ngày
26/3/2024 đến ngày 31/5/2024 mới giải quyết khiếu nại).
[2.3.2] Về nội dung: Như đã phân tích nêu trên, các quyết định hành chính
về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho gia đình bà Nguyễn Thị
M1 tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 17, xã N (nay xã N) là đúng quy định của pháp
luật nên nội dung giải quyết khiếu nại của Quyết định số 3063/QĐ-UBND ngày
31/5/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T có căn cứ.
[2.3.3] Do đó, ông Võ Tấn H yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 3063/QĐ-
UBND ngày 31/5/2024 của Chủ tịch UBND huyện T về việc giải quyết khiếu nại
của ông Võ Tấn H là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.4] Từ nhận định tại các mục [2.1], [2.2] và [2.3] nêu trên, Hội đồng xét xử
phúc thẩm thấy rằng Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định không chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của ông Võ Tấn H là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Võ Tấn H
kháng cáo yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về Toà án cấp sơ thẩm giải
quyết lại vụ án nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới, khác làm
căn cứ cho kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp
nhận kháng cáo của ông Võ Tấn H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà
Nẵng tại phiên tòa có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên
được chấp nhận.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người
khởi kiện ông Võ Tấn H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính;
Bác kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Tấn H và giữ nguyên quyết định
của Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2025/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
-- 34 of 36 --
35
2. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 115, khoản 1, điểm a
khoản 2 Điều 116, khoản 1, khoản 1 Điều 143, Điều 144, khoản 2 Điều 173, điểm
a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, khoản 1 Điều 348, Điều 358
Luật Tố tụng hành chính; Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 67, Điều 69, Điều 74,