Mục lục - 3 điều ▼
Điều 6. Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân Tối cao và điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật tố tụng
dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Tòa án đã thực hiện các
thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng cho ông P, bà Y đúng theo quy
định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng Dân sự và ông P là người trực tiếp ký nhận
các văn bản của Tòa án nhưng ông P, bà Y không có mặt tại Tòa án để làm các
văn bản gửi cho Tòa án nên không có căn cứ để xem xét ý kiến của ông bà. Từ
đó, cho thấy ông Danh P, bà Thị Y đã biết được nội dung yêu cầu khởi kiện của
bà M. Do đó, HĐXX thống nhất xét xử vắng mặt ông Danh P, bà Thị Y theo qui
định của pháp luật.
Vì vậy, HĐXX căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải
quyết. Do đó, HĐXX căn cứ vào “Tờ cam kết ngày 19/10/2020”, buộc ông
Danh P, bà Thị Y phải trả số tiền vốn gốc 42.000.000 đồng cho bà Sơn Thị Bạch
M.
[5] Xét yêu cầu tính lãi suất của bà Sơn Thị Bạch M thì bà yêu cầu tính lãi
theo quy định của Nhà nước từ ngày 19/10/2020 đến khi xét xử là có căn cứ
chấp nhận. Bởi vì, theo quy định của pháp luật, khi thỏa thuận vay tiền đều có
lãi trừ trường hợp các đương sự thỏa thuận không có lãi. Tuy nhiên, trong quá
trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông Danh P, bà Thị Y không có
mặt nên ông bà cũng không có văn bản trình bày về yêu cầu tình lãi của bà M.
Do đó, việc bà M yêu cầu tính lãi suất từ ngày 19/10/2020 đến ngày xét xử là
phù theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án bà
M yêu cầu lãi suất là 10%/năm là có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015:
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định
rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức
lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”.
Đối chiếu quy định trên thì lãi suất cho phép là 10%/năm: 12 tháng =
0,83%/tháng nên thời gian tính lãi suất như sau:
Đối với số tiền là 42.000.000 đồng tính từ ngày 19/10/2020 đến ngày xét
xử là ngày 07/5/2026 là 66 tháng 18 ngày: (42.000.000 đồng x 0,83%/tháng) x
66 tháng 18 ngày = 23.216.760 đồng.
Tổng cộng vốn và lãi: 42.000.000đ + 23.216.760đ = 65.216.760 đồng làm
tròn 65.217.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
[6] Tại phiên tòa sau khi nghe lời trình bày của nguyên đơn và đại diện
Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
-- 4 of 6 --
5
[7] Từ những phân tích đánh giá trên và sau khi thảo luận, nghị án HĐXX
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Sơn Thị Bạch M đối với bị đơn
ông Danh P, bà Thị Y. Do đó, buộc ông Danh P, bà Thị Y phải trả cho bà Sơn
Thị Bạch M số tiền là 65.217.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm mười bảy
nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468. của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổ, bổ sung năm 2025.
[8] Về án phí DSST là: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng
dân sự và khoản 2 Điều 26 ngày 30/12/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Yêu cầu của bà Mai Thị Bạch M2 được Tòa án chấp nhận nên bà M2 được
nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp là 1.602.000 đồng (một triệu
sáu trăm lẻ hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 300845 ngày 30/01/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Ông Danh P, bà Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là:
65.217.000 đồng x 5% = 3.260.850 đồng làm tròn là 3.261.000 đồng (ba triệu
hai trăm sáu mốt nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự
2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị Bạch M đối
với ông Danh P, bà Thị Y.
Buộc ông Danh P, bà Thị Y phải trả cho bà Sơn Thị Bạch M số tiền là
65.217.000 đồng (sáu mươi lăm triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng), trong đó:
Vốn gốc 42.000.000 đồng và lãi là 23.217.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468. Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí DSST: Là 3.261.000 đồng (ba triệu hai trăm sáu mốt nghìn
đồng) buộc ông Danh P, bà Thị Y phải nộp.
-- 5 of 6 --
6
Bà Sơn Thị Bạch M được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà ông bà đã nộp
là 1.602.000 đồng (một triệu sáu trăm lẻ hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số
300845 ngày 30/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có mặt quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 07/5/2026.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật
định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a và Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa
đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật
thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Đương sự;
- TAND tỉnh An Giang;
- VKSND khu vực 5;
- THADS tỉnh An Giang;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Trần Hoài Thanh
-- 6 of 6 --