Số: 01
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo Đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 11 năm 2025 và lời khai trong quá trình
2
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu là do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên
cãi vã, không còn cảm thông cho nhau. Nay bà D xác định tình cảm vợ chồng không
còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị D yêu cầu được ly hôn với
ông Phan Văn T.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Phan
Tuấn P, sinh ngày 10/3/2014 và Phan Lê D1, sinh ngày 19/7/2005. Sau khi ly hôn,
bà Lê D yêu cầu được trực tiếp và nuôi dưỡng con chung tên Phan Tuấn P, sinh ngày
10/3/2014, con chung Phan Lê D1, sinh ngày 19/7/2005 đã trưởng thành nên không
yêu cầu Toà án giải quyết. Bà Lê Thị D không yêu cầu ông Phan Văn T thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Phan Tuấn P.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Văn T: Đã được Toà án thông báo tham gia tố tụng, nhưng
không đến Toà án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn cũng không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Tại biên bản xác minh ngày 26 tháng 02 năm 2026 Tòa án tiến hành xác
minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Lê Thị D và ông Phan
Văn T tại Hội nữ phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh và được cung cấp thông tin
như sau: Bà Lê Thị D không phải là thành viên nữ phường. Trước khi khởi kiện ly
hôn tại Toà án, bà D cũng như ông T không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải
cơ sở; Hội Liên hiệp cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện khu phố
cũng như người dân phản ánh. Vì vậy, Hội hiệp nữ phường Đ không rõ nguyên
nhân mâu thuẫn giữa bà D và ông T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của
pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí
Minh: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng
pháp luật về tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn
vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định của pháp
luật.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.