CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 29 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang
Điều 91. và Điều 95 đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: 3 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật và nghị án, Tòa án nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: 1.1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Ô thanh toán số tiền vay gốc và lãi theo hợp đồng số: LN 2405232708780 ngày 23/5/2024, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp S, xã N, tỉnh An Giang nên theo quy định tại khoản 3
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 21/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên toà, ông Trần Văn D1 đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (Viết tắt: Ngân hàng) trình bày: Ông Tạ Ghi Ô
đã vay vốn của Ngân hàng TMCP V (V) theo hợp đồng số: LN 2405232708780,
ngày giải ngân 23/5/2024, số tiền vay gốc: 299.200.000đ, thời hạn vay: 60 tháng,
mục đích vay: Vay tiêu dùng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên, ông Ô đã thanh toán đến ngày
03/4/2025 gồm tiền gốc: 26.986.746đ; Tiền lãi: 70.112.765đ (Lãi trong hạn đã trả:
66.396.806đ, lãi quá hạn: 3.715.959đ) thì ngưng không thanh toán cho đến nay đã
vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 nên toàn bộ khoản vay trên đã bị chuyển sang
nợ quá hạn với lãi suất quá hạn.
Tại phiên tòa ông Trần Văn D1 là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn Ngân hàng TMCP V yêu cầu: Tòa án xem xét buộc ông/bà Tạ Ghi Ô phải thanh
toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi là 412.290.126 đồng (Trong đó tiền gốc là
272.213.254 đồng; Tiền lãi tính đến ngày 29/5/2026 là 140.076.872 đồng và tiền lãi
phát sinh theo hợp đồng tính kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Bị đơn ông Tạ Ghi Ô: Đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về
việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công
khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định
hoãn phiên tòa nhưng ông Ô đều không có mặt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm: Việc tuân thủ
pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử là đúng pháp luật, việc chấp hành
pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 ;
Điều 26. và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án ngày 25/6/2025 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang và Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng. 1.2. Về quan hệ tranh chấp: Khi Toà án thụ lý vụ án đã xác định quan hệ tranh chấp là hợp đồng vay tài sản là chưa phù hợp vì việc nguyên đơn Ngân hàng TMCP V cho ông Ô vay theo hợp đồng số: LN 2405232708780 ngày 23/5/2024 với số tiền gốc là 299.200.000đ (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm ngàn đồng) nên cần xác định lại quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là phù hợp theo quy định pháp luật. 1.3. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Ô đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do và tại phiên toà nguyên đơn cũng đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật. [2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo tài liệu chứng cứ nguyên đơn Ngân hàng TMCP V cung cấp ông Ô có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh N theo Hợp đồng hợp đồng số: LN 2405232708780 ngày 23/5/2024, với tổng số tiền dư nợ gốc tính đến ngày 29/5/2026 là 272.213.254đ (Hai trăm bảy mươi hai triệu, hai trăm mười ba ngàn, hai trăm năm mươi bốn đồng) cùng xác nhận và cam kết của khách hàng có đủ cơ sở xác định giữa ông Ô và Ngân hàng có phát sinh giao dịch vay vốn với nhau. Do không trả nợ đúng theo cam kết đã ký, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền còn dư nợ của ông Ô sang nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn. Đến nay thời hạn trả nợ đã hết, nhưng ông Ô không trả nợ cho nguyên đơn, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của nguyên đơn. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông 4 Ô phải trả số tiền trên là có cơ sở, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Ô phải trả số tiền gốc là 272.313.254đ và tiền nợ lãi phát sinh tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ đến ngày xét xử (ngày 29/5/2026) là 140.076.872 đ. Tổng cộng gốc và lãi là 412.290.126 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tính kể từ ngày 30/5/2026 cho đến khi thanh toán dứt nợ cho nguyên đơn. Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng ông Ô không gửi văn bản ý kiến. Theo khoản 2 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định“Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông Ô không có ý kiến phản đối nào với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng cũng như chứng cứ do Ngân hàng cung cấp. Nên xem như ông Ô đã mặc nhiên thừa nhận khoản nợ trên đồng thời việc bị đơn bỏ đi khỏi nơi cư trú mà không thông báo cho nguyên đơn đây được xác định là trường hợp phía bị kiện giấu địa chỉ theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017 ngày 05-5-2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. [3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn ông Ô phải có nghĩa vụ nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền tranh chấp là 412.290.126 đồng = 20.000.000đ x (4% + 12.290.126đ) = 20.491.605 đồng. Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7.629.000 đồng. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ: - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; 5 - Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án ngày 25/6/2025 - Các Điều 117, Điều 280, Điều 357, Điều 398, Điều 401, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 - Điều 90, 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP
V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Tạ Ghi Ô . Buộc bị đơn ông Ô có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền vay tính đến ngày 29/5/2026, gồm: gốc là 272.213.254đ và tiền nợ lãi phát sinh tính từ ngày vi phạm nghĩa vụ đến ngày xét xử (ngày 29/5/2026) là 140.076.872 đ; Tổng cộng: 412.290.126đ (Bốn trăm mười hai triệu, hai trăm chín mươi ngàn, một trăm hai mươi sáu đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 30/5/2026 ông Ô còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Ngân hàng, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Ô phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ô phải chịu án phí số tiền là
20.491.605 đồng. Ngân hàng TMCP V được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.629.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0010533 ngày 01/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, ngưòi phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành 6 dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điêu 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt phiên toà được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND Tỉnh An Giang; Thẩm Phán - Chủ Tọa Phiên Toà - VKSND KV 5- AG; - THADS tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu. Lữ Cẩm Nhung
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.