[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo với lỗi cố ý, rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế
độ độc quyền quản lý, sử dụng của Nhà nước về chất ma túy. Bản thân các bị
cáo biết rõ những tác hại ma túy gây ra cho sức khỏe, đời sống con người, gây
nguy hại cho cộng đồng, bị xã hội lên án; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an
tại địa phương, là nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm
khác, các tệ nạn xã hội và bệnh tật nguy hiểm cho người sử dụng; nhưng các bị
cáo bất chấp pháp luật cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên phải xử
lý nghiêm như tinh thần của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 tăng
mức hình phạt khởi điểm của khoản 1 Điều 255 đối với loại tội phạm này (tăng
mức hình phạt khởi điểm từ 2 năm thành 3 năm), cần cách ly các bị cáo ra khỏi
đời sống xã hội một thời gian dài mới có đủ tác dụng giáo dục trực tiếp đối với
các bị cáo, đồng thời còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về vị trí, vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công và
cấu kết chặt chẽ với nhau. Trong đó:
[4.1] Bị cáo H là người rủ rê bị cáo T sử dụng ma túy, chuẩn bị ma tuý,
địa điểm, dụng cụ, phương tiện và lắp các dụng cụ tạo thành bình để sử dụng ma
túy; dùng bật lửa tự đốt ma túy để tự sử dụng và đưa cho bị cáo T cùng sử dụng.
-- 4 of 7 --
5
[4.2] Bị cáo T cung cấp chai nước để bị cáo H lắp thành bình sử dụng ma
tuý; dùng bật lửa tự đốt ma túy để tự sử dụng và đưa cho bị cáo H cùng sử dụng.
[4.3] Do đó, các bị cáo có vai trò như nhau nhưng hành vi của bị cáo H có
tính chất, mức độ cao hơn so với bị cáo T trong tội Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy.
[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của
các bị cáo:
[5.1] Về nhân thân: các bị cáo đều nhân thân xấu, bị cơ quan Công an xử
phạt hành chính về các hành vi liên quan đến chất ma tuý, nhưng các bị cáo
không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma tuý” - là coi thường sự nguy hại của chất ma túy, thể hiện thái độ chấp
hành pháp luật của các bị cáo rất kém, cụ thể:
[5.1.1] Bị cáo H bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an
tỉnh Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi Tàng trữ
trái phép chất ma túy vào ngày 17/10/2025.
[5.1.2] Bị cáo T bị Công an xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (cũ) xử phạt vi
phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma
túy vào ngày 27/5/2023.
[5.2] Các bị cáo Huỳnh Văn H, Trần Thanh T không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự.
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.3.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều có thái độ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để
xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan
hồng của Nhà nước để các bị cáo được an tâm cải tạo.
[5.3.2] Bị cáo Huỳnh Văn H khi bị Công an phường B, tỉnh Đắk Lắk kiểm
tra hành chính đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy” của mình mà chưa bị phát hiện nên bị cáo H được hưởng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ
luật Hình sự.
[5.3.3] Bị cáo Trần Thanh T cũng đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi
phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của mình mà chưa bị phát
hiện trước khi Công an mời làm việc, tuy không thỏa mãn điều kiện được xem là
tình tiết “tự thú” như bị cáo H, không thỏa mãn điều kiện được xem là tình tiết
“đầu thú” nhưng được xem tình tiết khác “góp phần có hiệu quả vào việc phát
hiện, điều tra và xử lý tội phạm” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy
định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét.
[6] Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo H, T mức án tương
-- 5 of 7 --
6
xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra được quy
định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự trên cơ sở xem xét nhân thân, vai trò và các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo quy định tại khoản 5 Điều 255
Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính là hình phạt tù thì người phạm tội còn
có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá
trình thẩm vấn công khai tại phiên toà thấy rằng: các bị cáo H, T không có nghề
nghiệp, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo như đề
nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, có căn cứ.
[8] Về án phí: Các bị cáo H, T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ
thẩm.
[9] Đối với xe mô tô 78G1-488.14 do Huỳnh Văn H đứng tên chủ sở hữu
là phương tiện phạm tội nhưng H đã bán cho một người khác (liên hệ qua
Facebook) không rõ tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ
tiến hành truy tìm để xử lý nhưng không được; tiếp tục điều tra, truy tìm, xử lý
sau là cần thiết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Huỳnh Văn H, Trần Thanh T cùng phạm tội “Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2017; điểm r, s khoản
1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Phạt: bị cáo Huỳnh Văn H 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung: không.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2017; các điểm s
khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Phạt: bị cáo Trần Thanh T 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung: không.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23
Nghị
quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
-- 6 of 7 --
7
Các bị cáo Huỳnh Văn H, Trần Thanh T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ
(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Huỳnh Văn H, Trần Thanh T được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND KV12-Đắk Lắk;
- Công an tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu HSVA;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hữu Duyên
-- 7 of 7 --