CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcán ra xét xử số: 262/2026/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2026 giữa các
tiền 500.000.000đ, nhưng vẫn không trả. Nay chị yêu cầu anh Dương Văn T và chị
Trần Thị H trả số tiền vốn 1.200.000.000đ, lãi chậm trả (1.200.000.000đ x
10%/năm) x 1.050 ngày = 345.205.476đ, tổng cộng 1.545.205.476đ.
Đối với anh Dương Văn T, chị Trần Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ
các văn bản tố tụng, nhưng anh, chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi
kiện của chị U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Ngọc U
khởi kiện anh Dương Văn T là vụ kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, do đó
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm
a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tung: Chị U có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh T, chị H đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ điểm b khoản
2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các
đương sự nêu trên.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo các tài liệu,
chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện anh T, chị H có mượn của chị chị U số tiền
1.200.000.000đ, thời hạn mượn là 90 ngày. Tuy nhiên, hiện nay đã hết thời hạn
mượn tiền đã lâu, nhưng anh T, chị H chưa trả tiền cho chị U. Nay chị U yêu cầu
anh T và chị H trả số tiền 1.200.000.000đ. Xét thấy: Việc các đương sự giao dịch
mượn tiền với nhau bằng hình thức giao, nhận trực tiếp, có thiết lập biên nhận, anh
T và chị H cùng ký tên. Đồng thời, hiện nay thời hạn trả tiền đã hết, nhưng anh T,
chị H không trả tiền. Nay chị U khởi kiện yêu cầu anh T và chị H trả tiền là có căn
cứ nên được chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu về tiền lãi suất chậm trả, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi các
bên giao dịch mượn tiền có xác lập thời hạn là 90 ngày. Tuy nhiên, hiện nay thời
hạn đã hết, nhưng anh T, chị H không trả tiền cho chị U là vi phạm thỏa thuận, nên
anh T, chị H phải chịu tiền lãi suất chậm trả kể từ ngày (03/9/2023) đến ngày xét
xử sơ thẩm (26/5/2026) với mức lãi suất 10%/năm. Do đó, yêu cầu khởi kiện của
chị U là có căn cứ nên được chấp nhận.
Số tiền lãi suất chậm trả được tính như sau: (1.200.000.000đ x 10%/năm) x
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.