Điều 243. ; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 55 Bộ luật
Hình sự đối với bị cáo Đặng Thanh B; phạt:
1.1. Bị cáo Đặng Thanh B - 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Vi phạm
quy định về khai thác tài nguyên”; 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Hủy hoại
rừng”.
Phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Thanh B 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng) về
tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”; 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng)
về tội “Hủy hoại rừng”.
Buộc bị cáo Đặng Thanh B chấp hành hình phạt chung của 02 tội là: 02 (Hai)
năm 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/8/2024.
Buộc bị cáo Đặng Thanh B chấp hành chung hình phạt bổ sung của 02 tội là
100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
- Áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 227; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51;
Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Huỳnh Kim
H6, Ngô Tấn L; thêm điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo
Nguyễn Văn N, Huỳnh Kim H; phạt:
1.2. Bị cáo Nguyễn Văn N - 09 (C1) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về
khai thác tài nguyên”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn N 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).
-- 7 of 15 --
8
1.3. Bị cáo Huỳnh Kim H - 09 (C1) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về
khai thác tài nguyên”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung: Bị cáo Huỳnh Kim H 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).
1.4. Bị cáo Ngô Tấn L - 09 (C1) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về khai
thác tài nguyên”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Phạt bổ sung: Bị cáo Ngô Tấn L 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng).
- Áp dụng Điểm b, Khoản 1 Điều 227; Điểm b, s, i Khoản 1 Điều 51 Bộ luật
Hình sự đối với Nguyễn Văn L1; phạt:
1.5. Bị cáo Nguyễn Văn L1 - 06 (S1) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án.
Phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn L1 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
- Áp dụng Điểm c, Khoản 3 Điều 360; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51;
Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với Ngô Minh H4; phạt:
1.6. Bị cáo Ngô Minh H4 - 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án.
- Áp dụng Điểm c, Khoản 2 Điều 360; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51;
Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Trọng T5; phạt:
1.7. Bị cáo Nguyễn Trọng T5 - 01 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt chính, hình phạt bổ
sung đối với các bị cáo khác, phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[3] Kháng cáo:
Ngày 18/8/2025, bị cáo Nguyễn Văn L1, Nguyễn Trọng T5 kháng cáo xin
được hưởng án treo;
Ngày 20 và 23/8/2025, các bị cáo Ngô Tấn L, Nguyễn Văn N, Huỳnh Kim H
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giảm tiền bồi thường và xin được hưởng án
treo.
Ngày 25/8/2025, bị cáo Ngô Minh H4 kháng bản án sơ thẩm, đề nghị xem
xét lại mức độ hành vi, công vụ, nhiệm vụ của bị cáo để giảm một phần hình phạt.
Ngày 11/9/2026, Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Đà Nẵng có
Quyết định kháng nghị số 10/QĐ-VPT2 ngày 11-9-2025, đề nghị tăng hình phạt
đối với bị cáo Đặng Thanh B.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đặng Thanh B và người bào chữa trình bày ý kiến là sau khi xét xử
sơ thẩm đã bồi thường toàn bộ thiệt hại và nộp tiền phạt bổ sung, án phí với tổng
cộng là 2.624.100.322 đồng, bị cáo ăn năn hối lỗi, xin được xem xét khoan hồng.
Các bị cáo Nguyễn Văn L1, Nguyễn Trọng T5, Ngô Tấn L, Nguyễn Văn N,
Huỳnh Kim H, Ngô Minh H4 giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bị cáo Nguyễn
Trọng T5 và người bào chữa trình bày ý kiến là nguyên nhân dẫn đến phạm tội do
mới nhận nhiệm vụ nên chưa nắm bắt được công việc, sau đó lại bàn giao cho cấp
Phó phụ trách; đề nghị được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “có thành tích trong công
tác” vì có 02 năm được công nhận “chiến sĩ thi đua cơ sở”; nộp bồi thường thêm
-- 8 of 15 --
9
20.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn L1 trình bày bị cáo chỉ là người lái xe vận
chuyển, làm thuê trả công, mức độ hành vi thấp nhất trong vụ án.
Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng
Kiểm sát viên đại diện cho Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà
Nẵng phát biểu ý kiến: tại giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, những
người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VPT2
ngày 11/9/2026 về tăng hình phạt thì tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã nộp toàn bộ
số tiền thiệt hại, nên đề nghị xem xét mức hình phạt phù hợp.
Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trọng T5 thì tại giai đoạn phúc thẩm
bị cáo được áp dụng thêm nhiều tình tiết mới theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
chấp nhận kháng cáo. Đối với các kháng cáo của Nguyễn Văn L1, Nguyễn Trọng
T5, Ngô Tấn L, Nguyễn Văn N, Huỳnh Kim H, Ngô Minh H4 đề nghị không chấp
nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra,
truy tố và xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt các bị cáo Huỳnh Kim H, Ngô Tấn L, các
bị cáo này có đơn xin hoãn phiên toà. Tuy nhiên, các bị cáo đều kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt, lý do xin hoãn không có cơ sở, sự vắng mặt không gây trở
ngại, nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tiến
hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội:
Từ năm 2016 đến tháng 11/2023, Đặng Thanh B lấn chiếm rừng trồng phi
lao, chức năng rừng sản xuất tại khoảnh 1 tiểu khu B thuộc thôn L, xã B, thành phố
T, tỉnh Phú Yên (N là thôn L, phường B, tỉnh Đắk Lắk), do Hợp tác xã N5 Phường
9 quản lý, rồi cho Trần Ngọc N4 chặt phá 27.842,17m2 diện tích rừng trồng phi
lao, trong đó có 17.660,08m2 rừng phi lao chặt hạ từ ngày 14/01/2019 đến tháng
11/2023 có giá trị là 529.554.644 đồng để lấy gỗ hầm than, rồi B cất nhà, trồng
cây, xây dựng các công trình trên đất lấn chiếm.
Từ tháng 2/2018 đến tháng 12/2023, B cho Huỳnh Khắc D1 khai thác cát
không phép tại 7 vị trí trong 02 khu đất mà B chiếm để lấy cát trồng cây, xây dựng
công trình và chở đi bán, với tổng khối lượng là 39.129m3, trị giá 4.900.524.420
đồng. D1 thuê Huỳnh Thanh T6, Nguyễn Văn N, Huỳnh Kim H, Ngô Tấn L và
Nguyễn Văn L1 điều khiển xe đào, xe múc, xe tải để múc cát, vận chuyển đi theo
chỉ dẫn của B, trong đó T6 tham gia khai thác từ tháng 2/2023 đến tháng 12/2023
với tổng khối lượng là 39.129 m3, trị giá 4.900.524.420 đồng; H, N tham gia khai
-- 9 of 15 --
10
thác từ năm 2021 đến tháng 12/2023, với tổng khối lượng 25.984 m3, trị giá
3.402.179.900 đồng; L tham gia khai thác từ 4/2022 đến tháng 12/2023, với khối
lượng 13.874 m3, trị giá 2.081.100.000 đồng; L1 tham gia khai thác từ năm 2021
đến tháng 6/2022, với khối lượng 7.790 m3, trị giá 849.811.100 đồng.
Ngô Minh H4 là Phó Chủ tịch UBND xã B, phụ trách lĩnh vực khoáng sản
và là Tổ trưởng tổ kiểm tra, bảo vệ khoáng sản thôn L, xã B, từ tháng 10/2021 đến
tháng 12/2023, H4 đã không thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao,
không kịp thời ngăn chặn hành vi khai thác cát không phép của B và đồng phạm,
dấn đến thiệt hại tài sản nhà nước với số tiền 2.267.310.000 đồng.
Nguyễn Trọng T5 là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T
từ đầu năm 2021, phụ trách lĩnh vực khoáng sản, Tổ trưởng tổ kiểm tra của UBND
thành phố T, từ tháng 04/2021 đến tháng 8/2022 đã không thực hiện đầy đủ chức
trách nhiệm vụ được giao, không kịp thời ngăn chặn hành vi khai thác cát không
phép của B và đồng phạm, dẫn đến thiệt hại tài sản nhà nước với số tiền
1.139.226.870 đồng.
Bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định bị cáo
Đặng Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo Điểm b,
Khoản 2 Điều 227 Bộ luật Hình sự; và tội “Hủy hoại rừng” theo Điểm đ, Khoản 2