CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTrong đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 12 năm 2025 và những lời khai
việc cùng nhau, luôn hiểu lầm, cãi vã, không tôn trọng nhau. Do khó khăn về
kinh tế, chị Đ phải đi làm ăn xa nhưng anh T không nhất trí, không chia sẻ công
2
việc gia đình cùng chị. Mâu thuẫn trầm trọng nên anh chị đã sống ly thân từ
tháng 4 năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng
xảy ra đã được hai bên gia đình động viên hòa giải nhưng không thành. Chị Hà
Thị Đ xác định, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, tình cảm
vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh
Vàng Văn T.
Về nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Hà Thị Đ và anh Vàng
Văn T có hai con chung chưa thành niên là cháu Vàng Thị Thảo P, sinh ngày
04/11/2018; Vàng Thị Thanh T1, sinh ngày 19/11/2020. Trong đơn khởi kiện
ban đầu, ly hôn, chị Hà Thị Đ có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và không yêu cầu anh Vàng Văn T cấp
dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Đ thay đổi nội
dung đề nghị, chị có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục cháu Vàng Thị Thảo P, giao cho anh Vàng Văn T trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng cháu Vàng Thị Thanh T1. Chị Đ không yêu cầu Toà án giải
quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung. Nội dung thay đổi yêu cầu của chị Đ
không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được Toà án chấp nhận để xem
xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Hà Thị Đ không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, kèm theo đơn khởi
kiện chị Hà Thị Đ đã nộp cho Tòa án: Bản chính chứng nhận kết hôn số 42/2018
ngày 08/8/2018; Trích lục cải chính hộ tịch số 53/TLCCHT ngày 28/4/2025; bản
sao có chứng thực các giấy khai sinh số 245/2020 ngày 27/11/2020, số 248/2018
ngày 16/11/2018, của Ủy ban nhân dân xã M cấp; bản sao căn cước công dân
chị Hà Thị Đ, anh Vàng Văn T và xác nhận thông tin về cư trú. Việc giao nộp tài
liệu chứng cứ đúng thời gian và đúng trình tự, thủ tục.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai bị đơn anh
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.