Điều 15. Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định:
“2. Trước khi chuyển hướng, người điều khiển phương tiện tham gia giao
thông đường bộ phải quan sát, bảo đảm khoảng cách an toàn với xe phía sau,
giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ hoặc có tín hiệu bằng tay theo hướng rẽ
đối với xe thô sơ không có đèn báo hướng rẽ, chuyển dần sang làn gần nhất với
hướng rẽ. Tín hiệu báo hướng rẽ hoặc tín hiệu bằng tay phải sử dụng liên tục
trong quá trình chuyển hướng. Khi bảo đảm an toàn, không gây trở ngại cho
người và phương tiện khác mới được chuyển hướng.
3. Khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng
phải nhường đường cho người đi bộ, xe thô sơ, xe đi ngược chiều và chỉ chuyển
hướng khi không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người, phương tiện khác”.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Đoàn Trung N cần trả lại cho N
quả n lý, sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để phục vụ công tác xét xử .
- Đối với xe ô tô tải biển số 47H -082.44, nhãn hiệu CHENGLONG, loại xe
tải có mui; Màu sơn: bạc; là tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng ông Nguyễn Sỹ
H2 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1991, trú tại Thôn F, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Ngày
04/02/2026 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu
số B220/QĐ -VPCQCSĐT (Đ4-T4) bằng hình t hức trả lại xe ô tô biển số 47H -
082.44 cho ông Nguyễn Sỹ H2 quản lý, sử dụng là phù hợp (BL: 28).
- Đối với xe mô tô biển số 47L7 -9818, nhãn hiệu HONDA, loại xe: nữ,
màu sơn: xanh đen; là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Q, xe được mua
lại của bà Lê Thị L1, sinh năm 1951, trú tại Thôn H, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
(cũ), chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 10/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số B298/QĐ -VPCQCSĐT
(Đ4-T4) bằng hình thức trả lại xe mô tô biển số 47L7 -9817 cho ông Nguyễn Văn
Q quản lý, sử dụng là phù hợp (BL: 29).
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo Đoàn Trung N đã tự nguyện bồi thường cho
gia đình bà Nguyễn Thị N1 số tiền 300.000.000 đồng, người đại diện của bị hại là
ông Nguyễn Văn Q (là chồng của bị hại) đã nh ận số tiền trên và đã làm đơn bãi
nại đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự cho Đoàn
Trung N.
Đối với xe mô tô biển số 47 L7-9818, nhãn hiệu HONDA, loại xe: nữ, màu
sơn: xanh đen; là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn Q. Tổng thiệt hại cần
thay thế, sử a chữa là 1.420.000 đ ồng nhưng ông Nguyễn Văn Q (đại diện hợp
pháp của gia đình b ị hại) không yêu cầu nên Cơ quan điều tra không xử lý.
-- 7 of 12 --
8
Tại bản cáo trạng số: 13/CT-VKS, ngày 20/4/2026, Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 7 - Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Đoàn Trung N về tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình
sự (BLHS).
Tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Trung N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố và lời khai của
bị cáo tại cơ quan điều tra.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đăk
Lăk giữ quyền công tố Nhà nước, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác
xét xử, tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo: Đoàn Trung N về tội
“Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử
(HĐXX) á p dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65. BLHS, xử phạt bị cáo Đoàn Trung N từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho
hưởng á n treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Cá c biện phá p tư phá p:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng
hình sự (BLTTHS) năm 2015 đề nghị:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra trả lại 01 xe ô tô tải biển số 47H -082.44,
nhãn hiệu CHENGLONG, loại xe tải có mui; Màu sơn: bạc; là tài sản thuộc sở
hữu của vợ chồng ông Nguyễn Sỹ H2 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1991, trú tại
Thôn F, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 04/02/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ
đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số B220/QĐ -VPCQCSĐT (Đ4-T4) bằng
hình thức trả lại xe ô tô biển số 47H -082.44 cho ông Nguyễn Sỹ H2 quản lý, sử
dụng là phù hợp (BL: 28); Đối với xe mô tô biển số 47L7 -9818, nhãn hiệu
HONDA, loại xe: nữ, màu sơn: xanh đen; là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn
Văn Q, xe được mua lại của bà Lê Thị L1, sinh năm 1951, trú tại Thôn H, xã C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk (cũ), chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 10/02/2026,
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số
B298/QĐ-VPCQCSĐT (Đ4-T4) bằng hình thức trả lại xe mô tô biển số 47L7 -
9817 cho ông Nguyễn Văn Q quản lý, sử dụng là phù hợp (BL: 29).
- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Đoàn Trung N cho bị cáo N.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và g ia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận
bồi thường, gia đình bị hại không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Bị cáo Đoàn Trung N xin HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị
cáo. Ngoài ra, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đ ại diện hợp phá p của người bị hại, người có
quyền lợi nghĩ a vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA Á N:
-- 8 of 12 --
9
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra
viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại
và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,
quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của Cơ qua n tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đúng pháp luật.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại
cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập
được lưu trong hồ sơ vụ á n có đủ căn cứ pháp lý khẳng định: Vào khoảng 09 giờ
00 phút ngày 08/01/2026, Đoàn Trung N đã có giấy phép lái xe hạng C, điều
khiển xe ô tô tả i biển số 47H -082.44 lưu thông từ Nhà máy đường N, tỉnh Khánh
Hòa đi đến xã E, tỉnh Đắk Lắk để bốc mía. Khi đi đến Km 99+800, Quốc lộ B
đoạn thuộc địa phận thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk, Đoàn Trung N bật đèn tín hiệu
và điều khiển xe ô tô tải biển số 47H -082.44 chuyển hướng rẽ phải để đi vào
đường tỉnh lộ 3, nhưng do thiếu chú ý quan sát nên không phát hiện được xe mô
tô biển số 47L7 -9818 do ông Nguyễn Văn Q điều khiển chở bà Nguyễn Thị N1
ngồi sau đang di chuyển cùng chiều ở làn bên trong, dẫn đến gây ra vụ tai nạn
giao thông.
Hậu quả : Bà Nguyễn Thị N1 tử vong, ông Nguyễn Văn Q bị thương nhẹ,
xe mô tô biển số 47H -082.44 bị hư hỏng trị giá thiệt hại là 1.420.000 đồng.
Do đó, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đ đối
với bị cáo Đoàn Trung N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
Tại Điều 260 BLHS năm 2015 quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người”;
………….
[3] Xét tính chất, hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không
những đã vi phạm các quy định của Luật giao thông đường bộ mà còn xâm phạm
đến tính mạng của bà N1, gây thiệt hại về sức khỏe đối với ông Q, cũng như gây
thiệt hại về tài sản, đồng thời làm ả nh hưởng xấu đến an toàn gi ao thông công
cộng.
-- 9 of 12 --
10
Xét về ý thức: Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức được hành vi của
mình rằng việc điều khiển xe ô tô là nguồn nguy hiểm cao độ có thể gây nguy hại
đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người khác. Mặc dù nhận thức được điều đó,
song xuất phát từ ý thức chủ quan của bản thân khi tham gia giao thông nên bị
cáo thiếu chú ý quan sát khi chuyển hướng rẽ phải, không phát hiện được xe mô
tô biển số 47L7 -9818 do ông Nguyễn Văn Q điều khiển chở bà Nguyễn Thị N1
ngồi sau đang di chuyển cùng chiều ở làn bên trong, dẫn đến xả y ra tai nạn. Hậu
quả, bà Nguyễn Thị N1 tử vong, ông Nguyễn Văn Q bị thương nhẹ, xe mô tô biển
số 47H -082.44 bị hư hỏng trị giá thiệt hại là 1.420.000 đồng. Hành vi của bị cáo
đã vi phạm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy,
HĐXX cần á p dụng mức hình phạt sao cho tương xứng nhằm răn đe giáo dục bị
cáo và phòng ngừ a chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa
có tiền á n, tiền sự, phạm tội lần đầu. Sau khi gây tai nạn, bị cáo đã tự nguyện bồi
thường thiệt hại cho gia đình bị hại, được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa, bị cáo từng tham gia quân ngũ từ năm 2020 -
2022. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn k hai báo, ăn năn hối
cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Xét thấy
việc á p dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết nhưng nếu không bắt bị cáo
đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không làm ả nh hưởng xấu đến cuộc đấu t ranh
phòng chống tội phạm. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời
sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng á n treo, tự cải tạo dưới sự
giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đảm bảo mục đích
trừng trị, giáo dục bị cáo và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật. Vì vậy,
HĐXX cần á p dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng á n treo là phù
hợp.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là
phù hợp với tính chất, mức độ hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra nên cần chấp
nhận.
[5]Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm
2015 nhận thấy:
Chấp nhận việc Cơ quan điều tra trả lại 01 xe ô tô tải biển số 47H -082.44,
nhãn hiệu CHENGLONG, loại xe tải có mui; Màu sơn: bạc; là tài sản thuộc sở
hữu của vợ chồng ông Nguyễn Sỹ H2 và bà Hồ Thị C, sinh năm 1991, trú tại
Thôn F, xã M, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 04/02/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ
đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số B220/QĐ -VPCQCSĐT (Đ4-T4) bằng
hình thức trả lại xe ô tô biển số 47H -082.44 cho ông Nguyễn Sỹ H2 quản lý, sử
-- 10 of 12 --
11
dụng là phù hợp (BL: 28); Đối với xe mô tô biển số 47L7 -9818, nhãn hiệu
HONDA, loại xe: nữ, màu sơn: xanh đen; là tài sản thuộc sở hữu của ông Nguyễn
Văn Q, xe được mua lại của bà Lê Thị L1, sinh năm 1951, trú tại Thôn H, xã C,
huyện K, tỉnh Đắk Lắk (cũ), chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 10/02/2026,
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số
B298/QĐ-VPCQCSĐT (Đ4-T4) bằng hình thức trả lại xe mô tô biển số 47L7 -
9817 cho ông Nguyễn Văn Q quản lý, sử dụng là phù hợp (BL: 29).
- Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Đoàn Trung N do Sở Giao
thông vận tả i tỉnh Đ cấp ngày 04/03/2024, hạn sử dụng đến ngày 04/03/2029 cho
bị cáo N.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận
bồi thường, gia đình bị hại không có ý kiến yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồn g (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
I. Về tội danh – Điều luật áp dụng, hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Trung N, phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;