Mục lục - 3 điều ▼
Điều 35. và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2025, Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
[1.2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà một số người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không có lý do, một số người có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị H2 hiện đang cư trú ở nước ngoài,
đương sự và thân nhân chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng tại Việt
Nam của chị H2 mà không cung cấp được địa chỉ của chị H2 ở nước ngoài. Qua
xác minh, có căn cứ xác định chị H2 vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước
là bà Bàn Thị T. Mặc dù Tòa án đã thực hiện các thủ tục yêu cầu cung cấp địa
chỉ và thông báo cho chị H2 biết để gửi lời khai về cho Tòa án nhưng đến nay
thân nhân của chị H2 không cung cấp địa chỉ cho Toà án, chị H2 không gửi lời
khai về. Do đó, có cơ sở xác định đây là trường hợp đương sự cố tình giấu địa
chỉ, từ chối khai báo và từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Căn cứ Điều
227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết
04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân
tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với những người
trên.
[1.3] Về xem xét đề nghị tạm ngừng phiên toà: Tại phiên tòa, nguyên đơn
đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, gồm bản
gốc Sổ mục kê và triệu tập đại diện Ủy ban nhân dân xã N nhằm làm rõ quy
trình lập Sổ mục kê. Hội đồng xét xử xét thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ
sơ vụ án đã đủ cơ sở để giải quyết vụ án; việc thu thập thêm tài liệu như đề nghị
không phải là điều kiện cần thiết và không làm thay đổi bản chất vụ án, nên
không chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để
thu thập báo cáo của cơ quan đo đạc. Hội đồng xét xử xét thấy biên bản xem xét
thẩm định tại chỗ, sơ đồ đo đạc có chú thích rõ ràng, đã đủ cơ sở xác định vị trí,
diện tích phần tranh chấp nên việc thu thập thêm báo cáo không làm thay đổi
bản chất vụ án; do đó, không chấp nhận đề nghị tạm ngừng phiên tòa của đại
diện Viện kiểm sát.
[1.4] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên
tòa, nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn
tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất tranh chấp để thực hiện thủ tục đề
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy việc
rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không
trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại Điều 244 Bộ
-- 9 of 13 --
10
luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử
đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Nguyên đơn bà Bàn Thị T trình bày phần diện tích đất đang tranh chấp
thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 14 có nguồn gốc do vợ chồng bà và ông Lê
Bá V2 nhận chuyển nhượng từ khoảng năm 1959. Tuy nhiên, nguyên đơn không
xuất trình được hợp đồng chuyển nhượng, giấy tờ mua bán, giấy tờ kê khai đăng
ký hoặc tài liệu hợp pháp khác chứng minh cho lời trình bày này theo quy định
tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 137 Luật Đất đai năm 2024.
Theo tài liệu xác minh của UBND xã N, khu đất nêu trên trước đây là rừng
dẻ; bà T có một thời gian ra khu vực này để chăm cây, thu hái quả dẻ, nhưng
không có tài liệu thể hiện bà được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất,
công nhận quyền sử dụng đất hoặc đăng ký kê khai quyền sử dụng đất, cũng
không có tài liệu thể hiện việc bà thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng
đất đối với phần diện tích đang tranh chấp. Mặt khác, theo xác minh của địa
phương, đến khoảng năm 1975 bà T chuyển đi nơi khác sinh sống và không còn
ở khu vực này nữa. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn về việc phần diện
tích đất tranh chấp có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình không
được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ khách quan tương ứng theo quy định
pháp luật nêu trên.
Hội đồng xét xử đã xem xét lời khai của nguyên đơn, lời khai của ông
Nguyễn Hữu L, ông Nguyễn Văn T1 và trình bày của một số người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan về nguồn gốc khu đất, mốc ranh giới và quá trình sử dụng
đất trước đây. Tuy nhiên, các lời khai này chủ yếu phản ánh theo trí nhớ, sự biết
của cá nhân, không thống nhất hoàn toàn về đặc điểm mốc ranh giới, đồng thời
không kèm theo sơ đồ, tài liệu đo đạc, biên bản xác lập ranh giới hoặc tài liệu
quản lý đất đai tương ứng để xác định chính xác vị trí, hướng ranh và phần diện
tích cụ thể thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. So với các lời khai mang tính
hồi ức nêu trên, tài liệu xác minh của UBND xã và hồ sơ quản lý đất đai qua các
thời kỳ có cơ sở khách quan hơn để xem xét nguồn gốc, quá trình kê khai, đăng
ký và sử dụng đất. Vì vậy, chưa có đủ căn cứ vững chắc để chấp nhận lời trình
bày của nguyên đơn rằng phần diện tích 527,3m² đất đang tranh chấp có nguồn
gốc thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T.
[2.2] Về quá trình quản lý, sử dụng đất qua các thời kỳ
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phần diện tích đất đang
tranh chấp qua các thời kỳ không thể hiện do bà Bàn Thị T trực tiếp quản lý, sử
dụng ổn định, liên tục và được cơ quan nhà nước ghi nhận. Cụ thể, theo bản đồ
giải thửa đo đạc năm 1990, phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ
-- 10 of 13 --
11
số 14; đến sổ mục kê lập năm 1991, thửa đất này được ghi tên ông Lê Văn M;
đến khi đo đạc lập bản đồ địa chính năm 2010, phần diện tích đang tranh chấp
tiếp tục được thể hiện trong phần diện tích đất do hộ ông M sử dụng. Mặc dù
bản đồ địa chính và sổ mục kê không phải là căn cứ duy nhất để xác định quyền
sử dụng đất hợp pháp, nhưng đây vẫn là những tài liệu quản lý đất đai do cơ
quan nhà nước lập, cần được xem xét, đánh giá cùng các chứng cứ khác trong vụ
án.
Ngoài các tài liệu địa chính đã nêu, hồ sơ vụ án cũng không thể hiện có căn
cứ xác định bà Bàn Thị T là người kê khai, đăng ký và sử dụng ổn định, liên tục
đối với phần diện tích đang tranh chấp; ngược lại, quá trình quản lý đất đai qua
các thời kỳ thể hiện phần đất này gắn với việc sử dụng của ông Lê Văn M và
những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng thực tế sau ông M. Đối với nội
dung cho rằng bà T có nộp thuế sử dụng đất trong một số năm trước đây, ngoài
lời khai của người làm chứng thì không có tài liệu khách quan nào để đối chiếu,
kiểm chứng; kết quả xác minh tại cơ quan thuế cũng không còn dữ liệu lưu trữ
để làm căn cứ xem xét. Từ đó, không có đủ cơ sở để xác định bà T là người trực
tiếp quản lý, sử dụng liên tục, công khai, ổn định đối với phần diện tích 527,3m²
đất đang tranh chấp.
[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy nguyên đơn là người
khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 527,3m² đất tranh chấp nên có nghĩa vụ
xuất trình tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình theo
Điều 91. Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nguyên đơn không xuất trình được
tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho nguồn gốc đất như đã trình bày;
không xuất trình được giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
đất đai; đồng thời cũng không chứng minh được quá trình đăng ký kê khai, quản
lý, sử dụng ổn định, liên tục đối với phần diện tích đất tranh chấp qua các thời
kỳ.
Mặt khác, lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc và quá trình sử dụng
đất không phù hợp với hồ sơ quản lý đất đai và các tài liệu xác minh có trong hồ
sơ vụ án. Vì vậy, không có đủ căn cứ để xác định diện tích 527,3m² đất đang
tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn và không có căn cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bàn Thị T về việc buộc bị đơn trả lại diện
tích đất nêu trên thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số 14.
[2.4] Về ý kiến của nguyên đơn đề nghị tuyên hủy một phần nội dung Sổ
mục kê mang tên ông Lê Văn M đối với thửa đất số 125, Hội đồng xét xử xét
thấy: Sổ mục kê là tài liệu hình thành trong quá trình kê khai, đăng ký đất đai
nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước tại địa phương, đây không phải là
quyết định hành chính cá biệt xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng đất theo quy
-- 11 of 13 --
12
định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, như đã phân tích, yêu cầu
đòi quyền sử dụng đất của nguyên đơn không có căn cứ chấp nhận, nên nội dung
kê khai trong Sổ mục kê không làm thay đổi bản chất việc quản lý, chiếm hữu
thực tế diện tích đất tranh chấp của các đương sự. Do đó, không có cơ sở để Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[2.5] Về ý kiến của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
cho rằng việc bị đơn xây dựng công trình trên diện tích đất tranh chấp đã làm bịt
lối đi duy nhất vào phần đất phía trong (thửa số 4 diện tích 1.093,8m² do anh Lê
Văn N1 sử dụng), khiến gia đình không có lối đi canh tác; tuy nhiên, Hội đồng
xét xử xét thấy quan hệ pháp luật trong vụ án này chỉ là “Tranh chấp quyền sử
dụng đất” đối với diện tích 527,3m² theo yêu cầu khởi kiện, không bao gồm yêu
cầu về quyền lối đi qua bất động sản liền kề, nên chỉ xem xét trong phạm vi yêu
cầu đòi lại quyền sử dụng đất. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu về lối đi
qua bất động sản liền kề bằng một vụ án dân sự khác theo quy định pháp luật.
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận,
nguyên đơn bà Bàn Thị T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ
và định giá tài sản là 15.100.000 đồng theo quy định tại Điều 157, 165
BLTTDS. Xác nhận bà T đã nộp đủ chi phí tố tụng.
[4] Về án phí: Bà Bàn Thị T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí,
căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, HĐXX miễn
án phí dân sự sơ thẩm cho bà T.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147;
Điều 157. , khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271,
khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được
sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 137 Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn
trả lại quyền sử dụng diện tích 527,3m² đất thuộc thửa đất số 125, tờ bản đồ số
14 tại thôn S, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
2. Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc buộc bị đơn tháo dỡ công trình xây dựng trên diện tích đất tranh chấp.
3. Về chi phí tố tụng: Bà Bàn Thị T phải chịu 15.100.000 đồng (Mười lăm
-- 12 of 13 --
13
triệu một trăm nghìn đồng) chi phí tố tụng. Xác nhận bà T đã nộp đủ chi phí tố
tụng.
4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Bàn Thị T.
5. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nguyên đơn bà Bàn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan gồm anh Lê Văn N1, chị Nguyễn Thị S, chị Lê Thị V1, chị Lê Thị B do bà
Cao Thị N đại diện theo ủy quyền có mặt tham gia phiên toà nhưng vắng mặt
khi tuyên án không có lý do chính đáng, có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với chị Lê Thị H2 đang ở nước ngoài vắng mặt
tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận
được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- TAND tỉnh Bắc Ninh;
- VKSND Khu vực 3 - Bắc Ninh;
- THADS tỉnh Bắc Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Mai Hương
-- 13 of 13 --