CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcxử số 318/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
- Ngày 28/11/1983, Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
đưa đi cưỡng bức lao động 12 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản của công dân”.
- Ngày 25/6/1985, Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đưa
đi cưỡng bức lao động 24 tháng về hành vi “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm
đoạt tài sản của công dân”.
- Ngày 29/9/1986, Tòa án nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
xử phạt 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản của công dân” tại Bản án số 110/HSST.
- Ngày 05/4/1988, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa” tại Bản án số 70/HSST.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/12/2025. Có mặt.
- Bị hại: Bà Phạm Lê T2, sinh năm 1963; Nơi cư trú: 1 C, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Hiền L. Thường trú:
thôn Đ, xã L, thành phố B (nay là xã Đ), tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 05/8/2025, Lê Trung T đến khu vực phát cơm
từ thiện tại trước Khoa cấp cứu, Bệnh viện T3, địa chỉ: E T, Phường D, Thành
phố Hồ Chí Minh. T phát hiện chị Phạm Lê T2 đang đứng đợi lấy cơm có để 01
điện thoại di động hiệu Redmi Note 13 ở túi quần bên phải. T liền đi tới bên cạnh
chị T2. Lợi dụng chị T2 không để ý, T dùng tay phải lén lấy được chiếc điện thoại
của chị T2. Sau đó, T điều khiển xe gắn máy biển số 49FA-2822 mang chiếc điện
thoại trên đến bán tại Cửa hàng T4, địa chỉ: F Â, phường B, Thành phố Hồ Chí
Minh, do anh Lương Tuấn N làm chủ. Qua kiểm tra, nghi vấn chiếc điện thoại
Thành bán là tài sản do phạm tội mà có nên anh N điện thoại cho anh Trần Hữu
K, là con rể của chị T2 và được biết chiếc điện thoại di động hiệu Redmi Note 13
của chị T2 bị trộm cắp. Anh N gọi điện báo với Công an Phường B, Thành phố
Hồ Chí Minh đưa T về trụ sở làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Trung T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như
nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng thu giữ và các
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.