Bản án24Ban hành: 09/03/2026Còn hiệu lực
Bản án số 24 ngày 09/03/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh về Phạm Ngọc N, Hà Thị Thu T
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; nguyên đơn, một số
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71
và 73 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị
Phạm Như H1 chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các Điều 116, 117, 119, 295, 296, 298,
317, 319, 357, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91;
Ngân hàng TMCP S1 về việc:
+ Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200
ngày 14/4/2017 ký giữa Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh Q với anh Phạm Ngọc
N và chị Hà Thị Thu T.
+ Anh Phạm Ngọc N và chị Hà Thị Thu T có trách nhiệm liên đới trả cho
ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
09/3/2026) số tiền là 995.346.287 đồng, trong đó tiền gốc là 975.000.000 đồng,
tiền lãi trong hạn là 20.250.079 đồng; tiền lãi quá hạn là 34.818 đồng và lãi chậm
thanh toán là 61.390 đồng.
+ Ngân hàng TMCP S1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có
thẩm quyền xử lý thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 68/2017/HĐTC-BTB/SHB.112200 ngày 14/4/2017 giữa Ngân hàng TMCP
S1 – Chi nhánh Q và chị Phạm Như H1, là: Quyền sử dụng 167,6m2 đất thuộc thửa
đất số 159A tờ bản đồ địa chính số 33 địa chỉ tổ C, khu B, phường C, thành phố H
(nay là phường C), tỉnh Quảng Ninh và toàn bộ tài sản trên đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: S2 khởi kiện anh Phạm
Ngọc N và chị Hà Thị Thu T yêu cầu trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Anh N, chị T
có địa chỉ tại phường H, tỉnh Quảng Ninh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản
1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số
85/2025/QH15 ngày 25/6/2025, xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp
đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1 –
Quảng Ninh.
- Về yêu cầu khởi kiện: ngày 03/3/2026, S2 có đơn bổ sung yêu cầu chấm
dứt Hợp đồng tín dụng số 83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200 ngày 14/4/2017.
Xét thấy S2 khởi kiện buộc anh N, chị T trả toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá
hạn, nên yêu cầu chấp dứt hợp đồng tín dụng không vượt quá yêu cầu khởi kiện
ban đầu, căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Dân sự chấp nhận.
- Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn anh Phạm Ngọc N, chị Hà Thị Thu T
và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phạm Như H1 được triệu tập hợp
-- 5 of 14 --
6
lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do; những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan khác xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên
theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét Hợp đồng tín dụng:
Ngày 14/4/2017, Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh Q và anh Phạm Ngọc N,
chị Hà Thị Thu T ký Hợp đồng tín dụng số 83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200
thoả thuận ngân hàng cho anh N, chị T vay 1.500.000.000 đồng; mục đích mua bất
động sản để ở; thời hạn vay 300 tháng kể từ ngày 15/04/2017 đến ngày
14/04/2042; lãi suất: lãi suất cho vay trong thời hạn từ ngày 14/04/2017 đến ngày
14/04/2018 là 8,21%/năm; lãi suất các lần tiếp điều chỉnh 03 tháng/lần kể từ thời
điểm điều chỉnh gần nhất, mức lãi suất áp dụng cho kỳ điều chỉnh ngày 14/04/2018
và các lần tiếp theo bằng lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 13 tháng
trả lãi sau cao nhất của S2 tại thời điểm điều chỉnh cộng với (+) biên độ cho vay là
3,5%/năm; lãi suất cho vay quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời
điểm chuyển nợ quá hạn và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số
ngày thực tế chậm trả.
Xét thấy hợp đồng tín dụng và điều khoản cấp tín dụng, mức lãi suất được
S2 và anh N, chị T thoả thuận, ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều
cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đúng quy định tại Điều 116, Điều
117, Điều 119 Bộ luật Dân sự, Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, Điều
13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3, Nghị
quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, S2 thực hiện đúng
nghĩa vụ giải ngân đủ số tiền cho vay và thời gian như đã thỏa thuận, nhưng anh N,
chị T không thanh toán đúng các kỳ trả nợ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
09/3/2026), anh N, chị T còn nợ S2 tổng số tiền là 995.346.287 đồng, trong đó tiền
gốc là 975.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 20.250.079 đồng; tiền lãi quá hạn là
34.818 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 61.390 đồng. Như vậy, anh N, chị T đã
vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận tại Điều 6 Hợp đồng tín dụng số
83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200 và Khế ước nhận nợ số 01-
83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200 ngày 14/4/2017. Việc S2 khởi kiện buộc anh N,
chị T trả số nợ tiền gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm thanh toán như
trên là có căn cứ theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên chấp nhận.
Đối với yêu cầu chấm dứt Hợp đồng tín dụng: theo thoả thuận tại Hợp đồng
tín dụng số 83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200 ngày 14/04/2017 thì thời hạn cấp
tín dụng là 300 tháng kể từ ngày 15/4/2017 đến ngày 14/4/2042. Tuy nhiên, do anh
N, chị T vi phạm nghĩa vụ trả nợ, S2 khởi kiện buộc anh N, chị T trả toàn bộ nợ
gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn với hợp đồng. Dó đó, S2 yêu cầu chấm dứt Hợp
đồng tín dụng là có căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 422 Bộ luật Dân sự, nên chấp
nhận.
-- 6 of 14 --
7
[2.2] Xét hợp đồng thế chấp:
Để đảm bảo cho khoản vay của anh Phạm Ngọc N, chị Hà Thị Thu T, S2 và
chị Phạm Như H1 ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 68/2017/HĐTC-
BTB/SHB.112200 ngày 14/4/2017, thỏa thuận chị H1 thế chấp thửa đất số 159A tờ
bản đồ số 33 tại tổ C, khu B, phường C, thành phố H (nay là phường C), tỉnh
Quảng Ninh cho S2 (gồm cả tài sản gắn liền với đất tạo lập trước và trong thời gian
thế chấp). Hợp đồng thế chấp được ký trên cơ sở tự nguyện, mục đích và nội dung
thoả thuận phù hợp đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của pháp luật, tài sản
thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp, được đăng ký thế chấp
theo quy định tại các Điều 295, 296, 298, 317, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 4 Nghị
định 107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp đảm
bảo. Như vậy, hợp đồng thế chấp là hợp pháp, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của
các bên.
Kết quả xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp: thửa đất số 159A tờ bản
đồ số 33 diện tích 169,1m2; trên đất có 01 nhà b2 diện tích 31,3m2; 01 nhà g1 diện
tích 43,1m2; 01 mái tôn diện tích 75,2m2; 01 sân si măng diện tích 64m2; 01 bể
nước diện tích 11,2m2 và phần công trình nhà của bà Nguyễn Thị M, anh Đào
Mạnh T1, anh Đào Minh N1 diện tích 1,5 m2.
Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: như phân tích ở mục [2.1] quá trình thực
hiện hợp đồng tín dụng, anh N, chị T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ ngân
hàng. Căn cứ khoản 6.1 Điều 6 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số
68/2017/HĐTC-BTB/SHB.112200 ngày 14/4/2017, S2 có quyền yêu cầu xử lý tài
sản thế chấp. Theo kết quả xem xét thẩm định thửa đất số 159A tờ bản đồ số 33,
chị H1 đang quản lý, sử dụng 167,6m2; phần diện tích 1,5m2 còn lại có công trình
nhà gia đình bà Nguyễn Thị M xây sang. S2 có quan điểm chỉ yêu cầu xử lý tài sản
thế chấp theo hiện trạng đất chị H1 quản lý, sử dụng là 167,6m2; đối với 1,5m2 có
công trình gia đình bà M xây sang thửa đất không yêu cầu xử lý. Xét đây là sự tự
nguyện của ngân hàng nên chấp nhận. Từ phân tích trên, chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của S2 về xử lý tài sản thế chấp, trường hợp anh N, chị T không trả nợ thì
SHB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế
chấp là quyền sử dụng 167,6m2 đất thuộc thửa đất số 159A tờ bản đồ số 33, địa chỉ
tổ C, khu B, phường C, thành phố H (nay là phường C), tỉnh Quảng Ninh và toàn bộ tài
sản trên đất, để thu hồi nợ.
[3] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định hết số 15.000.000 đồng. S2
đã tạm ứng số tiền này. Yêu cầu khởi kiện của S2 được chấp nhận nên anh N, chị T
có nghĩa vụ liên đới trả cho S2 số tiền xem xét thẩm định trên.
[4] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của S2 được chấp nhận, anh N, chị T phải
chịu 41.860.389 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại S2 21.570.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại
QUYẾT ĐỊNH
-- 7 of 14 --
8
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
298, 317, 319, 357, khoản 4 Điều 422, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều
91; Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số
39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3; Điều 4 Nghị định
107/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính Phủ; Nghị quyết số 01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 về việc:
- Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số 83/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.112200
ngày 14/4/2017 ký giữa Ngân hàng TMCP S1 – Chi nhánh Q với anh Phạm Ngọc
N và chị Hà Thị Thu T.
- Anh Phạm Ngọc N và chị Hà Thị Thu T có trách nhiệm liên đới trả cho
ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
09/3/2026) số tiền là 995.346.287đ (chín trăm chín mươi lăm triệu ba trăm bốn
mươi sáu nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng), trong đó tiền gốc là 975.000.000đ
(chín trăm bảy mươi lăm triệu đồng), tiền lãi trong hạn là 20.250.079đ (hai mươi
triệu hai trăm lăm mươi nghìn không trăm bảy mươi chín đồng); tiền lãi quá hạn là
34.818đ (ba mươi tư nghìn tám trăm mười tám đồng) và lãi chậm thanh toán là
61.390đ (sáu mươi mốt nghìn ba trăm chín mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 09/3/2026) cho đến khi
thi hành án xong, anh Phạm Ngọc N và chị Hà Thị Thu T còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận
tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
- Ngân hàng TMCP S1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có
thẩm quyền xử lý thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất số 68/2017/HĐTC-BTB/SHB.112200 ngày 14/4/2017 giữa Ngân hàng TMCP
S1 – Chi nhánh Q và chị Phạm Như H1, cụ thể là:
Quyền sử dụng 167,6m2 đất được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,5,1), thuộc
thửa đất số 159A tờ bản đồ địa chính số 33 địa chỉ tổ C, khu B, phường C, thành
phố H (nay là phường C), tỉnh Quảng Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AO 860829 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 23/02/2009, mang
tên ông Phạm Văn D (C1) (bà Phạm Như H1 nhận quyền sử dụng đất theo Hợp
đồng tặng cho ngày 30/06/2016, đăng ký quyền sử dụng đất ngày 04/10/2016) và
tài sản trên đất gồm 01 (một) nhà b2 diện tích 31,3m2; 01 (một) nhà g1 diện tích
43,1m2; 01 (một) mái tôn diện tích 75,2m2; 01 (một) sân si măng diện tích 64m2;
01 (một) bể nước diện tích 11,2m2.
Ngân hàng TMCP S1 có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện
đăng ký biến động đất đai đối với diện tích 167,6m2 theo quy định.
-- 8 of 14 --
9
(có sơ đồ khảo sát hiện trạng sử dụng đất kèm theo và là phần không thể
tách rời Bản án).
2. Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Ngọc N và chị Hà Thị Thu T có trách
nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP S1 15.000.0000đ (mười lăm triệu đồng)
tiền xem xét thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP S2 có đơn yêu cầu thi hành án, anh N, chị T
không trả số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nêu trên thì còn phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Về án phí: Anh Phạm Ngọc N và chị Hà Thị Thu T phải chịu 41.860.389đ (bốn
mươi mốt triệu tám trăm sáu mươi nghìn ba trăm tám mươi chín đồng) án phí dân
sự sơ thẩm.
Trả lại Ngân hàng TMCP S1 21.570.000đ (hai mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi
nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa
án số 0001155 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, Người có quyền lợi và nghĩa vụ
liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày
nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND Khu vực 1 – Quảng Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh;
- TAND,VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu hồ sơ, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hiền
-- 9 of 14 --
10
-- 10 of 14 --
11
-- 11 of 14 --
12
-- 12 of 14 --
13
-- 13 of 14 --
14
-- 14 of 14 --
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.
Văn bản liên quan
Nguồn: mạng tri thức VietLex (liên kết trích tự động từ văn bản chính thống)