CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcra xét xử số 29/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026 giữa các đương
2
trọng, không hạnh phúc. Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với bà
D, bà D xác định hiện bà D đã lớn tuổi nên không muốn ly hôn, do đó bà D không
đồng ý ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 02 người con chung tên Trần Thị Huỳnh N, sinh ngày
11/3/2004 và Trần Hạo N1, sinh ngày 29/3/2011; con chung tên Trần Thị Huỳnh N
đã trưởng thành, có gia đình riêng, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; con chung
tên Trần Hạo N1, ông T yêu cầu nuôi con, không yêu cầu bà D cấp dưỡng.
- Về tài sản chung; Nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải
quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau phát biểu
quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và
nội dung vụ án:
- Về thủ tục tố tụng:
Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Giải quyết đúng thẩm quyền, cấp, tống đạt các
văn bản đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, không thuộc
trường hợp phải thay đổi ai. Vì vậy, về mặt thủ tục tố tụng, Viện kiểm sát không có
ý kiến hay kiến nghị.
- Về nội dung vụ án:
Có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Trần Văn T đối
với bà Phan Thị D.
Về con chung: Giao con chung tên Trần Hạo N1 cho ông T trực tiếp nuôi. Bà
D không cấp dưỡng nuôi con do ông T không yêu cầu.
Đối với con chung tên Trần Thị Huỳnh N đã trưởng thành, các đương sự
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự xác định tự thỏa thuận, không yêu
cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.