CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđịnh đưa vụ án ra xét xử số: 17/2026/QĐXX-ST ngày 06 tháng 4 năm 2026 và
không còn tình cảm với anh Nguyễn Cao K nên yêu cầu Toà án giải quyết cho
chị được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh
ngày 08/12/2016. Hiện nay, cháu Nguyễn Bảo A đang ở với chị S nên chị có
2
nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu anh
K cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ tất cả
các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Cao K nhưng anh K không đến Toà án làm
việc và cũng không nộp cho Toà án bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị phát
biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử
và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã
chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại
các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt
tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều
227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều
56, Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, của
Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên
xử:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.