số 326/NQ-UBTVQH và mục A danh mục á n phí, lệ phí ban hành kèm theo
Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về á n phí, lệ phí Tòa á n;
Tuyên xử:
-- 7 of 14 --
8
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị L việc yêu
cầu Tòa á n : Buộc anh Phan Khắc T phải di dời nhà cửa, tài sản; trả lại quyền sử
dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 585, tờ bản đồ số
01, bản đồ 299, diện tích 480m2 (nay là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 47, diện tích
363,3m2) địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Hà Tĩnh cho bà Lê Thị L.
2. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị P về việc buộc bà
Lê Thị L phải bồi thường 143.150.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu một
trăm năm mươi ngàn đồng) tiền thiệt hại thực tế và 23.400.000 đồng (hai mươi ba
triệu bốn trăm ngàn đồng) tiền tổn thất về tinh thần cho gia đình bà P.
Ngoài ra, á n sơ thẩm cò n tuyên về á n phí, chi phí tố tụng và quy ền khá ng
cá o của cá c đương sự theo quy định.
Ngày 23/12/2025, nguyên đơn bà Lê Thị L có đơn kháng cáo toàn bộ bản á n
sơ thẩm.
Ngày 29/12/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P
có đơn kháng cáo một phần bản á n sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Phan
Khắc T phải di dời nhà cửa, tài sản; trả lại quyền sử dụng đất và công nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 585, tờ bản đồ số 01, bản đồ 299, diện tích
480m2 (nay là thửa đất số 71, tờ bản đồ số 47, diện tích 363,3m2) địa chỉ: Thôn
B, xã L, tỉnh Hà Tĩnh cho bà Lê Thị L.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Theo trình bày nguyên đơn, sự thừa nhận của bị đơn và của ủy ban nhân dân
xã B và lời khai của người liên quan ông Lê Tử D, ông Lê Tử Đ và người làm
chứng đều xác định chủ sử dụng đất tại thời điểm đo vẽ bản đồ 299 là ông Lê Tử
C3 nên có cơ sở xác định đất thuộc quyền sử dụng của ông C3 nên đây là tình
tiết sự kiện không phải chứng minh theo điều 92 BLTTDS, ông C3 chết thì
người thừa kế của ông C3 là bà L có quyền khởi kiện. Giấy tờ bán của bị đơn
nộp là do họ hàng của ông C3 bán nên không phù hợp. Bị đơn chiếm hữu chưa
đủ 30 năm nên chưa đủ để chiếm hữu ngay tình. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Phan Khắc T phải di dời
nhà cửa, tài sản; trả lại quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 585, tờ bản đồ số 01, bản đồ 299, diện tích 480m2 (nay là thửa đất
số 71, tờ bản đồ số 47, diện tích 363,3m2) địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Hà Tĩnh
cho bà Lê Thị L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P vẫn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu độc
lập buộc bà Lê Thị L phải bồi thường 143.150.000 đồng (một trăm bốn mươi ba
triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) tiền thiệt hại thực tế và 23.400.000 đồng
-- 8 of 14 --
9
(hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng) tiền tổn thất về tinh thần cho gia đình bà
P.
Đại diện Viện kiểm sá t nhân dân tỉ nh Hà Tĩ nh sau khi phát biểu về việc
tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các
đương sự đã phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ á n, quyết định của bản á n
sơ thẩm, nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn, của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan, đề nghị H ội đồng xét xử á p dụng khoản 1 Điều 308 c ủa Bộ
luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận nội dung kháng cáo của nguyên đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên bản á n dân sự sơ thẩm số
27/2025/DSST ngày 17/12/2025 của Tòa á n nhân dân khu vực 1 - Hà Tĩnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự.
[1]. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Nguyễn Thị P trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
1.2. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ á n, tư
cách những người tham gia tố tụng: Tòa á n cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan
hệ pháp luật theo khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và thụ lý
giải quyết theo thẩm quyền được quy định tại Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết vụ á n, Tòa á n cấp sơ
thẩm đã xác định đúng, đầy đủ tư cách của những người tham gia tố tụng.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P, Hội đồng xét xử nhận định như
sau:
2.1. Về tên gọi của ông Lê Tử K1.
Theo Báo cáo số 28/BC -UBND ngày 11/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã B
(cũ) có nội dung: Ông Lê Tử C3 và ông Lê Tử K1 là 01 người, nhưng trong quá
trình soạn thảo văn bản cán bộ nhầm lẫn giữa vẫn “C” và vần “K”. Căn cứ tài
liệu, chứng cứ thu thập được cùng với kết quả xác minh của Tòa á n tại địa
phương thể hiện, ông K1 (C) là người đã từng sinh sống trên thửa đất tranh chấp
này, không có ai khác mang tên C3 (Ku) cùng sử dụng. Như vậy, có cơ sở để
khẳng định ông Lê Tử C3 và ông Lê Tử K1 là một người.
Đối với tên gọi khác của ông C3 (K): Nguyên đơn cho rằng, tên thường gọi
của ông C3 (K) là “L3” nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào để chứng
minh. Ủy ban nhân dân xã L xác nhận ông Lê Tử K1 ngoài tên gọi Lê Tử K1 (C)
không có tên gọi nào khác. Các hộ dân cao tuổi sinh sống gần thửa đất tranh chấp
-- 9 of 14 --
10
cung cấp thông tin: Người làng vẫn thường gọi ông C3 là “L” vì ông C3 không
có con nên nhận ông L3 là người dưỡng tử, chứ không bao giờ gọi là “L3”. Và tại
phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị L cũng khẳng định tên thường gọi của
ông C3 là “Long Cu” chứ không phải “L3”. Như vậy, không có cơ sở để xác định
ông Lê Tử C3 (K3) có tên gọi khác là “ L3”.
2.2. Về quyền khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn cho rằng nguyên đơn là con đẻ của ông Lê Tử C3 (K) và bà Lại
Thị E. Tài liệu để chứng minh quan hệ này là “Giấy khai sinh lại” do UBND xã
E, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 12/11/2013. Tuy nhiên, bị đơn và một số người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho rằng bà L không phải là con đẻ của ông Lê Tử
K1 (Cu); phía bị đơn cho rằng giấy khai sinh lại do UBND xã E cấp chỉ là thủ tục
hành chính được cấp theo kê khai và cam đoan của bà L theo nơi thường trú nên
bà L không có quyền khởi kiện đòi lại thửa đất 585. Ngày 10/4/2025, Tòa á n cấp
sơ thẩm đã có văn bản yêu cầu Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk cung cấp tài
liệu chứng cứ về toàn bộ hồ sơ đăng ký lại khai sinh của bà Lê Thị L và trả lời
bằng văn bản về trình tự thủ tục thực hiện đăng ký lại khai sinh cho bà L (BL số
79). Tại văn bản số 30 ngày 18/4/2025, UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trả lời: “ Trình
tự, thủ tục thực hiện đăng ký khai sinh lại của bà Lê Thị L được thực hiện đúng
quy định theo
Nghị định 158/2025/NĐ-CP ngày 27/12/2005 và
Thông tư
01/2008/TT-BTP”. Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn cung cấp tài liệu mới là văn bản
số 585/CV-UBND ngày 04/12/2025 của ủy ban nhân dân xã E trong đó Ủy ban
đã khẳng định: Việc cấp giấy khai sinh ngày 12/11/2013 cho bà Lê Thị L được
thực hiện đúng quy định của pháp luật và nội dung do người yêu cầu khai báo.
Ủy ban xã không chịu trách nhiệm đối với việc bà L sử dụng giấy khai sinh để tự
nhận là con đẻ của ông Lê Tự K cũng như các hệ quả pháp lý phát sinh từ việc bà
kê khai thông tin này”.
Như vậy, giấy khai sinh lại của bà Lê Thị L chưa bị thu hồi, hủy bỏ. Quá
trình giải quyết vụ á n không ai có yêu cầu giám định ADN để xác định quan hệ
huyết thống cha- con giữa ông Lê Tử C3 (Ku) và bà Lê Thị L. Vì vậy, trên cơ sở
giấy khai sinh và thực tế có việc chung sống với nhau giữa ông C3 và bà E có cơ
sở khẳng định bà Lê Thị L là con ông Lê Tử C3, nên bà Lê Thị L có quyền khởi
kiện đòi lại tài sản của bố bà để lại.
2.3. Về nguồn gốc và tình trạng pháp lý của thửa đất tranh chấp.
Theo báo cáo của Ủy ban dân dân xã B tại văn bản số 28/BC-UBND ngày
11/4/2025 và văn bản số 34 ngày 12/6/2025 thì Bản đồ 299, sổ mục kê thể hiện
người kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 585, tờ bản đồ số 01 (trang
số 19) ghi tên “L3”. Tuy nhiên, lời khai của nguyên đơn bà Lê Thị L; bị đơn và
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều khẳng định: nguồn gốc thửa đất Thửa
đất số 585, tờ bản đồ số 01 trên đất đã có một nhà ở là của ông Lê Tử L5 (cha
của ông C3). Sau khi ông C3 kết hôn với bà X1 được bố mẹ cho thửa đất này để
chung sống, giữa ông C3 và bà X1 có một người con chung là Lê Thị C4 (đã mất
khi còn nhỏ). Sau một thời gian kết hôn bà X1 mất, ông C3 tiếp tục kết hôn với
-- 10 of 14 --
11
bà Nguyễn Thị B2 (tên thường gọi là H4), giữa hai người không có con chung.
Đến khoảng năm 1971, ông C3 đưa bà Lại Thị E về sinh sống cùng cùng ông C3
với bà B2. Đến năm 1986 ông Lê Tử C3 chết, bà Lại Thị E và bà Lê Thị L đã rời
bỏ quê hương vào miền nam sinh sống. Bà H4 tiếp tục sống tại căn nhà và thửa
đất nói trên đến năm 1996, bà H4 chết. Như vậy, mặc dù bản đồ địa chính 299
mang tên “Long”, các tài liệu về hồ sơ quản lý đất đai không phản á nh thửa đất
trên mang tên ông Lê Tử C3 (K). Nhưng thửa đất trên các đương sự đều thừa
nhận là đất của bố mẹ ông C3 để lại cho vợ chồng ông C3 (K3), sau khi ông C3
mất bà H4 sử dụng đến năm 1996 bà H4 mất, đây là tình tiết sự kiện không phải
chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Theo lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Tử L1, ông Lê
Tử D, ông Lê Tử Đ thì sau khi ông Lê Tử C3 chết vào năm 1986, mẹ con bà Lê
Thị L rời khỏi địa phương vào miền N sinh sống. Bà Lê Thị L cho rằng mẹ con
bà L vào miền nam năm 1996. Mặc dù, giữa các đương sự không thống nhất về
thời điểm mẹ con bà L vào miền N, nhưng căn cứ vào “Lý lịch của người xin vào
Đảng” của anh Nguyễn Xuân T16 con bà L, phản á nh quá trình sinh sống làm
việc của bà L: Năm 1990 là nông nhân tại xã E. Như vậy, có căn cứ xác định bà
L đi vào miền N từ năm 1990; còn bà E vào Đaklak chung sống với bà L vào
năm 1992 (BL 133-147). Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/5/2025 (BL51-52), bà
Lê Thị L cho rằng sau khi bà rời địa phương vào miền N lập nghiệp cho đến cuối
năm 2023 bà có về địa phương một lần không nhớ rõ ngày tháng. Thời điểm mẹ
con bà L vào miền N thửa đất nói trên do bà B2 (bà H4) sử dụng. Theo lời khai
của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Tử L1, ông Lê Tử D, ông Lê
Tử Đ, cho rằng: sinh thời ông Lê Tử C3 không có con trai và giữa bà B2 và ông
C3 không có con chung để lo việc trăm tuổi nên ông C3 nhờ cháu trai là ông Lê
Tử L1 làm “dưỡng tử”, ông L1 có trách nhiệm thờ cúng trông nom mộ phần của
ông C3, bà B2. Thực tế, thời điểm bà B2 chết vào năm 1996, bản thân ông L1 và
con cháu lo hậu sự cho bà B2. Việc thờ cúng, sửa sang, cải tạo mồ mả của ông
C3, bà B2 hàng năm đều do ông L1 và con cháu nội tộc đảm nhiệm. Quá trình
giải quyết vụ á n bà L cũng không phủ nhận việc ông L1 là người đứng ra thờ
cúng ông C3, bà B2.
Ngày 16/3/1998, sau khi bà B2 mất được 02 năm, anh em phía bên nội ông Lê Tử
C3, gồm ông Lê Tử T17, Lê Tử B1, Lê Tử L1, Lê Tử Đ, Lê Tử D và anh em bên
ngoại của bà Nguyễn Thị B2 (bà H4), gồm ông Nguyễn Duy H3, ông Nguyễn
Duy T18; bà Nguyễn Thị V1 đã thống nhất bán thửa đất số 585, tờ bản đồ số 01,
bản đồ 299, diện tích 480m2 là di sản của ông C3, bà B2, cho ông Phan Khắc N
(bố đẻ bị đơn ông Phan Khắc T) với số tiền 500.000 đồng. Việc mua bán có lập
“Giấy bán nhà vườn”, có xác nhận của anh em nội, ngoại và chính quyền địa
phương (Bl 208, 209). Như vậy, mặc dù nguồn gốc thửa đất là của ông Lê Tử C3,
bà Nguyễn Thị B2, nhưng hai người không có con chung; bà Lê Thị L là con
riêng của ông C3 với bà E, nhưng sau khi ông C3 mất, bà E và bà L vào miền N
sinh sống không về, thời điểm bà B2 mất việc hậu sự do con cháu ông Lê Tử C3
là ông Lê Tử L1 gánh vác lo liệu là thực hiện công việc của người chết để lại. Số
-- 11 of 14 --
12
tiền 500.000 đồng bán đất không sử dụng vào mục đích cá nhân của ông Lê Tử
L1, mà dùng vào việc thờ cúng, cải tạo mồ mả cho ông C3, bà B2, việc cải tạo
phần mộ và thờ cúng được bà L thừa nhận do ông L1 đảm nhiệm (BL52).
Sau khi ông Phan Khắc N nhận chuyển nhượng, thanh toán đủ 500.000 đồng số
tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông N đã cho vợ chồng con trai ông Phan
Khắc T, bà Nguyễn Thị P quản lý sử dụng thửa đất trên. Sau khi về sinh sống trên
thửa đất từ năm 1998, do nhà cửa xuống cấp nên ông T, bà P đã sửa chữa, xây
dựng lại nhà và sinh sống ổn định từ đó cho đến nay. Quá trình sử dụng đất ông
Phan Khắc T (con ông N), bà Nguyễn Thị P sử dụng ngay tình, ổn định liên tục
trên 24 năm. Bà Lê Thị L có về địa phương, biết việc ông T, bà P sử dụng nhưng
không hề có ý kiến phản đối.
Như vậy, xét giao dịch lập ngày 16/3/1998 chuyển nhượng quyền sử dụng
đất 585, tờ bản đồ số 01, bản đồ 299, diện tích 480m2 tại xã L, tỉnh Hà Tĩnh giữa
hai bên nội ngoại ông Lê Tử C3, bà Nguyễn Thị B2 với ông Phan Khắc N, vi
phạm về chủ thể thực hiện giao dịch. Nhưng mục đích thực hiện giao dịch để
thực hiện công việc mai táng, thờ cúng, cải tạo mồ mả của ông C3, bà B2 là thực
hiện công việc của người chết là chủ sử dụng hợp pháp để lại, được hai bên nội
ngoại của ông C3, bà B2 đồng ý . Bên nhận chuyển nhượng ông Phan Khắc N đã
thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán số tiền 500.000 đồng chuyển nhượng, sau khi
nhận chuyển nhượng ông N đã cho vợ chồng con trai Phan Khắc T, chị Nguyễn
Thị P sử dụng, cải tạo xây dựng nhà cửa sinh sống ổn định từ năm 1998 cho đến
nay. Bà L thoát ly khỏi địa phương từ năm 1990 đến nay mới về địa phương, bà
không phải là người trực tiếp lo hương khói, thờ cúng ông C3, bà B2. Mặt khác,
bản thân ông Phan Khắc T là người khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội, ngoài
chỗ ở này ông T, bà P không có chỗ ở nào khác.
Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là
không có căn cứ, Tòa á n cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là đúng quy định pháp luật.
2.4. Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị P.
Bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Lê Thị L phải bồi thường thiệt hại cho bà P tổng
số tiền 166.550.000 đồng cụ thể gồm các khoản: Tiền chi phí thực tế để tham gia
giải quyết vụ á n do bà L khởi kiện 143.150.000 đồng gồm: Tiền nghỉ việc không
lương, tiền thuê xe/mua vé máy bay di chuyển, tiền thuê dịch vụ pháp lý và yêu
cầu bồi thường 23.400.000 đồng tiền tổn thất về tinh thần. Xét thấy, việc bà L
khởi kiện là thực hiện quyền dân sự, đảm bảo các nguyên tắc cơ bản của pháp
luật dân sự theo quy định tại Điều 3, Điều 9 Bộ luật dân sự; thực hiện quyền
quyết định và tự định đoạt của mình trong việc khởi kiện theo quy định tại Điều
5 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T11 và chị P là người bị kiện có các quyền và
nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các Điều 70, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân
sự. Căn cứ hướng dẫn tại
Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, ngày 06/9/2022 của
Hội đồng thẩm phán Tòa á n nhân dân tối cao hướng dẫn á p dụng một số quy
định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, yêu
-- 12 of 14 --
13
cầu độc lập này không có căn cứ. Tòa á n cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, đúng quy định
của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa á n cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, vì vậy
kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị P là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng
quy định pháp luật cần chấp nhận.
[3]. Về án phí:
Do kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn bà Lê Thị L phải
chịu á n phí dân sự phúc thẩm.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị P phải chịu á n
phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên bà P thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn á n phí
nên được miễn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận khá ng
cá o của nguyên đơn bà Lê Thị L, không chấp nhận kháng cáo của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị P. Giữ nguyên Bản á n dân sự sơ
thẩm số 27/2025/DSST ngày 17/12/2025 của Tòa á n nhân dân khu vực 1 - Hà
Tĩnh.
Căn cứ khoản 1 Điều 5; khoản 9 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39; Các Điều 147; 148; 157; 158; 165; 166; 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều
3; Điều 9, các Điều 137; khoản 2 Điều 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 20
Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính
được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 20
Thông tư 02/2015/TT -BTNMT ngày
27/01/2015 Quy định chi tiết một số điều của
Nghị định 43/2014/NĐ-CP và nghị
định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính Phủ.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a, b khoản 1