Bản án280Ban hành: 19/05/2026Còn hiệu lực
Bản án số 280 ngày 19/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
⚠ Tiêu đề chi tiết chưa được trích xuất
Tiêu đề chi tiết của Bản án chưa được trích xuất từ nguồn - tải PDF để xem nội dung vụ việc cụ thể.
Tải PDF
File phục vụ qua máy chủ VietLex. Miễn phí, không cần đăng ký.0 lượt tải0 lượt xem
Xem bản PDF gốc (giữ nguyên dấu, chữ ký, định dạng)
266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 14, Điều 117, Điều 119, Điều 122, Điều 123, Điều 131,
- Căn cứ Điều 166, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Đồng Thị V, về việc:
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đồng Đức Đ,
Trần Thị L1 với Hồ Thanh T2 ngày 21 tháng 6 năm 2010, diện tích 1403m2;
Hợp đồng chuyển nhượng với ông M1, diện tích 103m2 và Hợp đồng chuyển
nhượng đất với bà Vương Thị T1, diện tích 784m2.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1
với ông Y Wơn N1, với diện tích là 2.692,6m², do Ủy ban nhân dân phường T
chứng thực số 12- quyển 01/2017/TPCCSCT/HĐGD ngày 03 tháng 5 năm 2017
và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Y Wơn N1 với bà Trần
Thị L1 với diện tích 2512,2m², do Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B,
chứng nhận số 33 quyển số 01/2017/SCT/HĐGD.
- Tuyên văn bản từ chối quyền thừa kế có tên Đồng Thị V được ủy ban
nhân dân phường T, TP . chứng thực ngày 8 tháng 11 năm 2007 là vô hiệu.
- Tuyên giấy ủy quyền ký tên Đồng Thị V được UBND phường T, thành
phố B chứng thực ngày 20/01/2005 là vô hiệu.
- Tuyên bố vô hiệu đối với hồ sơ kê khai, toàn bộ thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, Huỷ Giấy CNQSDĐ số U198184 được UBND thành
phố B cấp cho ông Đồng Đức Đ ngày 25/12/2001 và huỷ toàn bộ biến động,
chỉnh lý, sang tên.
-- 7 of 22 --
8
- Tuyên bố vô hiệu đối với hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận QSD đất,
Huỷ Giấy CNQSDĐ số AM 471704 được UBND thành phố B cấp cho ông
Đồng Đức Đ ngày 14/04/2008 và huỷ toàn bộ biến động, chỉnh lý, sang tên.
- Tuyên vô hiệu đối với Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
22/4/2013 giữa bà L1 với ông N và bà T tại Văn phòng C2.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đồng Đức Đ,
Trần Thị L1 với Hồ Thanh T2 ngày 21 tháng 6 năm 2010, diện tích 1403m².
- Huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất với bà Vương Thị T1, diện tích
784m2 và toàn bộ giao dịch chuyến nhượng mà ông Đ bà L1 đã chuyển nhượng
trong diện tích 5252m², huỷ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Yêu cầu Toà án giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, khôi
phục lại tình trạng ban đầu các diện tích đất trên là di sản của bà H7 để lại.
- Yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế gồm:
+ Thửa đất số 3, tờ bản đồ số 57, diện tích là 5.252m², chia cho bà V
2.626m².
+ Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 18, diện tích 1403m² và thửa đất số 101, tờ
bản đồ số 12, diện tích 103,6m², do đã chuyển nhượng và sang tên cho người
khác nên yêu cầu Toà án chia theo hướng nhận tiền.
+ Thửa đất số 3, diện tích 1403m², tờ bản đồ số 18, theo hướng nguyên
đơn được hưởng 50% giá trị thửa đất, diện tích đất có giá 2.930.867.000 đồng.
Một nửa giá trị thửa đất bà V được hưởng tương đương số tiền 1.465.433.500
đồng.
+ Thửa đất số 101, tờ bản đồ số 12, diện tích 103,6m2, giá trị
4.593.002.400 đồng, một nửa giá trị thửa đất bà V được hưởng tương đương số
tiền: 2.296.501.200 đồng.
+ Yêu cầu bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T là
những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Đồng Đức Đ và là những người
được hưởng di sản của ông Đồng Đức Đ để lại phải có trách nhiệm trả cho bà V
số tiền trên.
Về duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời: Duy trì Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời số: 14/2018/QĐ-BPKCTT ngày 12 tháng 9 năm 2018
của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (nay là Tòa án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk).
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 13/10/2025 nguyên đơn bà Đồng Thị V có
đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ngày 29/10/2025 Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết
định kháng nghị số 948/QĐ-VKS-DS, kháng nghị đối với Bản án dân sự sơ
thẩm số: 174/2025/DSST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 – Đắk Lắk, đề nghị huỷ Bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án
cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên
đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, gửi văn bản xin thay đổi nội dung khởi kiện và
kháng cáo, nguyên đơn đề nghị HĐXX xác định thửa đất số 03 tờ bản đồ 18 và
thửa đất số 101 tờ bản đồ số 12 là di sản thừa kế, nhưng vì các thửa đất này đã
-- 8 of 22 --
9
chuyển nhượng cho nhiều người khác nên nguyên đơn không yêu cầu phân chia
di sản thừa kế đối với 2 thửa đất này; Không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp
đồng vô hiệu.
Tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Căn cứ Điều 299, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk xin thay đổi một phần
nội dung kháng nghị, đề nghị HĐXX:
- Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 174/2025/DSST ngày 29 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk và đình chỉ giải quyết vụ
án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị V về yêu cầu chia di sản thừa kế
đối với thửa đất 101, tờ bản đồ 12, diện tích 103.6m2; Thửa đất số 03, tờ bản đồ
số 18, diện tích 1.403m², toạ lạc tại phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk;
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đồng Thị V; chấp nhận thay đổi
kháng nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với Quyết định kháng nghị số
948/QĐ-VKS-DS ngày 29/10/2025 của Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk -
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 174/2025/DSST ngày 29 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết
quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn bà Đồng Thị V kháng cáo trong thời hạn luật
định, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Viện
trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk kháng nghị trong thời hạn luật định nên vụ án
được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án
nguyên đơn yêu cầu tuyên bố văn bản từ chối quyền thừa kế, văn bản thỏa thuận
phân chia di sản thừa kế, giấy ủy quyền vô hiệu; Hủy hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất; Hủy GCNQSD đất; Chia di sản thừa kế, tuy nhiên cấp sơ thẩm chỉ xác
định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và chia tài sản thừa kế” là chưa đầy đủ, nên cấp phúc thẩm cần xác
định lại quan hệ pháp luật là phù hợp.
[2] Xét Quyết định kháng nghị số 948/QĐ-VKS-DS ngày 29/10/2025 của
Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk và thay đổi kháng nghị tại phiên tòa phúc
thẩm về yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 101 tờ bản đồ
số 12 và thửa đất số 03 tờ bản đồ số 18. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi
kiện là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn
vắng mặt; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk cũng thay
đổi Quyết định kháng nghị và đề nghị đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi
kiện này của nguyên đơn là phù hợp, nên HĐXX xét thấy cần hủy một phần bản
án sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế đối với thửa
-- 9 of 22 --
10
đất 101, tờ bản đồ 12, diện tích 103.6m2; Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 18, diện
tích 1.403m², toạ lạc tại phường T, tỉnh Đắk Lắk.
[3]. Xét Quyết định kháng nghị số 948/QĐ-VKS-DS ngày 29/10/2025 của
Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk và thay đổi kháng nghị tại phiên tòa về việc
Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là đánh giá chứng cứ không khách quan, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của nguyên đơn đề nghị sửa Bản án sơ thẩm, và xét kháng cáo của
nguyên đơn về việc đề nghị sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện, HĐXX xét thấy:
[3.1] Về yêu cầu tuyên văn bản từ chối quyền thừa kế có tên Đồng Thị V
được ủy ban nhân dân phường T, TP . chứng thực ngày 8 tháng 11 năm 2007 vô
hiệu, tuyên giấy uỷ quyền đề ngày 20/12/2005 vô hiệu, HĐXX xét thấy:
Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế là giao dịch dân sự đơn phương, thể
hiện ý chí tự nguyện của người có quyền hưởng di sản. Theo quy định của Bộ
luật Dân sự, giao dịch dân sự có hiệu lực khi chủ thể có năng lực hành vi dân sự,
tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện và thể hiện đúng ý chí của mình. Trong
trường hợp này, căn cứ Kết luận giám định số 379/KL-KTHS ngày 17/3/2025
của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận chữ ký mang tên Đồng Thị V trong
Văn bản từ chối quyền thừa kế không phải là chữ ký của bà Đồng Thị V, do đó,
văn bản không thể hiện ý chí tự nguyện của bà V tại thời điểm lập văn bản. Việc
giả mạo chữ ký làm cho giao dịch không do đúng chủ thể xác lập, vi phạm điều
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Vì vậy, có căn cứ xác định Văn bản từ
chối quyền thừa kế ngày 08/11/2007 là giao dịch dân sự vô hiệu.
Xét giấy uỷ quyền đề ngày 20/12/2005 có nội dung bà Đồng Thị V uỷ
quyền cho ông Đồng Đức Đ được toàn quyền đứng tên trong GCNQSDĐ tại địa
chỉ A đường N, phường T, như vậy bà V chỉ uỷ quyền cho ông Đ Đứng tên
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 101 tờ bản đồ số 12. Qúa trình giải quyết
vụ án bà V thừa nhận có ký vào giấy uỷ quyền nói trên. Tuy nhiên trong giấy uỷ
quyền không thể hiện thời hạn uỷ quyền, căn cứ Điều 582 Bộ luật Dân sự 2005
thì hợp đồng uỷ quyền có hiệu lực 01 năm kể từ thời điểm xác lập uỷ quyền, như
vậy từ ngày 21/12/2006 hợp đồng uỷ quyền nêu trên hết hiệu lực. Như vậy yêu
cầu của nguyên đơn về yêu cầu tuyên bố giấy uỷ quyền ngày 20/12/2005 vô hiệu
là chưa phù hợp, mà cần tuyên Hợp đồng uỷ quyền ngày 20/12/2005 chấm dứt
hiệu lực kể từ ngày 21/12/2006.
[3.2] Về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đồng Đức Đ: Đối với thửa đất
số 101 tờ bản đồ 12 theo GCNQSDĐ số AM 741704 được U cấp ngày
14/4/2008 cho hộ ông Đồng Đức Đ; Thửa đất số 03 tờ bản đồ số 18 và thửa số
03 tờ bản đồ số 57 theo GCNQSDĐ số U 198184 được U cấp ngày 25/12/2001
cho hộ ông Đồng Đức Đ. Vì văn bản từ chối quyền thừa kế vô hiệu và giấy uỷ
quyền ngày 20/12/2005 chấm dứt hiệu lực kể từ ngày 21/12/2006, nên dẫn đến
việc cấp GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 03 tờ bản đồ số 18, thửa đất số 101
tờ bản đồ số 12, thửa đất 03 tờ bản đồ số 57 cho hộ ông Đồng Đức Đ là không
đúng đối tượng, dẫn đến Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
-- 10 of 22 --
11
22/4/2013 giữa bà Trần Thị L1 với ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T tại
Văn phòng C2 vô hiệu. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 133 Bộ luật dân sự
năm 2015 thì những người đã nhận chuyển nhượng hợp pháp quyền sử dụng đất
từ ông Đ bà L1 và đã được cấp GCNQSDĐ là người thứ ba ngay tình nên không
có căn cứ để huỷ các Hợp đồng chuyển nhượng cùng các GCNQSDĐ sau: Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ, bà Trần Thị L1
với ông Hồ Thanh T2 đối với thửa đất số 18 tờ bản đồ số 03 diện tích 1.403m2
cùng GCNQSDĐ số BB 797556; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông Hồ Thanh T2, bà Lê Thị Thu N5 với ông Nguyễn Đăng K đối với thửa
đất số 18 tờ bản đồ số 03 diện tích 1.403m2 cùng phần chỉnh lý biến động sang
tên ông Nguyễn Đăng K; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Trần Thị L1 với ông Nguyễn Quang M1, đối với thửa đất số 101 tờ bản đồ số
12, diện tích 103,6m2 cùng GCNQSDĐ số CM 143196; Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ với bà Vương Thị T1 đối với
thửa đất số 3A tờ bản đồ số 57, diện tích 784m2 cùng GCNQSDĐ số AB
509873; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ với
bà Nguyễn Thị Phương H8 đối với thửa đất số 3B tờ bản đồ số 57 diện tích
414m2 cùng GCNQSDĐ số AH 932934; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông Y Wơn N1 với ông Vũ Hoàng T10, bà Ninh Thị B đối với
thửa đất số 86 tờ bản đồ số 57 diện tích 180,1m2 cùng GCNQSDĐ số CM
143407.
[3.3] Còn đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Trần Thị L1 với ông Y Wơn N1, đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ số 57 diện tích
là 2.692,6m², cùng GCNQSDĐ số CL 068273; Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa Y Wơn N1 với bà Trần Thị L1 đối với thửa đất số 87 tờ bản đồ
số 57, diện tích 2.512,2m² cùng GCNQSDĐ số CM 143408. Xét thấy, văn bản
từ chối quyền thừa kế vô hiệu nên dẫn đến việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông
Đồng Đức Đ đối với thửa 03 tờ bản đồ 57 là không đúng đối tượng, nên việc
chỉnh lý sang tên cho bà Trần Thị L1 cũng không đúng đối tượng, dẫn đến Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông Y Wơn N1
vô hiệu đối với phần diện tích 2.512,2m² (vì ông Y Wơn N1 đã chuyển nhượng
cho ông Vũ Hoàng T10, bà Ninh Thị B đối với diện tích 180,1m2 và đã được cấp
GCNQSDĐ nên để bảo vệ người thứ ba ngay tình thì không thể tuyên vô hiệu
đối với Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Y Wơn N1 với ông Vũ Hoàng T10,
bà Ninh Thị B) và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Y Wơn N1
với bà Trần Thị L1 vô hiệu. Đồng thời cần hủy GCNQSDĐ số CM 143408 cấp
cho bà Trần Thị L1 đối với thửa đất số 87 tờ bản đồ số 57, diện tích 2.512,2m²
[3.43] Đối với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là các
giấy chuyển nhượng viết tay:
Vì thời điểm các bên lập văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì
các thửa đất là đất nông nghiệp chưa đủ điều kiện để tách thửa và chuyển
nhượng. Mặc dù biết rõ phần đất chuyển nhượng chưa đủ điều kiện tách thửa và
chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển nhượng, các bên vẫn lập
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm chuyển giao quyền sử dụng
-- 11 of 22 --
12
đất. Việc thỏa thuận này vi phạm các quy định của pháp luật đất đai về điều kiện
thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên giao dịch này không thể
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và đăng ký theo quy định của
pháp luật. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, giao dịch dân sự có mục đích và
nội dung vi phạm điều cấm của luật thì vô hiệu. Vì vậy cần tuyên vô hiệu đối
với: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông
Đoàn Hữu G ngày 30/7/2016; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 20/02/2002 giữa ông Đồng Đức Đ, bà Trần Thị L1 với ông Bạch Thanh
H3; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông
Nguyễn Xuân T6; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần
Thị L1 với ông Huỳnh Ngọc V1 bà Trần Thị N4; Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông Trương Thanh T11, bà Nguyễn
Thị Hải Q; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương
Thanh T11, bà Nguyễn Thị Hải Q với ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai
N6; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với bà
Phạm Thị Hải Y ngày 10/10/2013; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà Trần Thị L1 với ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 công chứng ngày
03/10/2013.
- Buộc ông Đoàn Hữu G tháo dỡ, đập bỏ các vật kiến trúc trên đất để trả
lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 147,7m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số
07). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đất ông Hồ Thanh T2
dài 29,42m; Tây giáp đất ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4 dài
29,49m; Nam giáp đất ông Nguyễn Xuân T6 dài 4,96m; Bắc giáp hẻm N 5,07m.
- Buộc ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4 tháo dỡ, đập bỏ
căn nhà hai tầng diện tích 163m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho
bà Đồng Thị V diện tích đất 201,8m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 06). Vị
trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đất ông Đoàn Hữu G dài
(29,49m + 9,17m); Tây giáp thửa 59 dài 39,51m; Nam giáp đất ông Nguyễn
Xuân T6 dài 5,09m; Bắc giáp hẻm N 5,82m.
- Buộc ông Nguyễn Xuân T6 di dời, chặt bỏ tất cả cây chuối đã trồng trên
đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 366,1m2 (Theo trích đo hiện trạng
là thửa số 14). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê
tông dài 11,99m; Tây giáp đất ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4
dài (9,17m + 3,17m); Nam giáp đất ông Huỳnh Ngọc V1 dài 33,56m; Bắc giáp
đất ông Đoàn Hữu G, ông Hồ Thanh T2, ông Nguyễn Bá N2 và bà Nguyễn Thị
N3 dài (5,09m + 4,96m + 6,0m + 18,58m).
- Buộc ông Huỳnh Ngọc V1, bà Trần Thị N4 di dời, chặt bỏ tất cả cây
chuối đã trồng trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 173m2 (Theo
trích đo hiện trạng là thửa số 13). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Đông giáp đường bê tông dài 5,15m; Tây giáp thửa 109 dài 5,19m; Nam giáp
đất ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 dài 33,45m; Bắc giáp đất ông
Nguyễn Xuân T6 dài 33,56m.
-- 12 of 22 --
13
- Buộc ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 tháo dỡ, đập bỏ toàn
bộ tường rào bê tông, cổng sắt và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà
Đồng Thị V diện tích đất 169,7m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 12). Vị trí
thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông 5,05m; Tây giáp
thửa 109 dài 5,04m; Nam giáp đất ông Trương Kim H2, bà Phạm Thị Hải Y dài
(22,9m + 10,13m + 0,43m); Bắc giáp đất ông Huỳnh Ngọc V1, bà Trần Thị N4
dài 33,45m.
- Buộc ông Trương Kim H2, bà Phan Thị Hải Y1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà
cấp 4 diện tích 180m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng
Thị V diện tích đất 432,2m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 15). Vị trí thửa
đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài 12,99m; Tây giáp
thửa 109 dài (6,0m + 7,03m); Nam giáp đất ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 dài
33,43m); Bắc giáp đất ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 dài (22,9m
+ 10,13m + 0,43m).
- Buộc ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà cấp 4 diện
tích 148,2m2, nhà ở diện tích 29m2, dãy phòng trọ diện tích 51m2 và dãy phòng
trọ diện tích 61,2m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị
V diện tích đất 351,1m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 16). Vị trí thửa đất
tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài (5,46m + 4,58m); Tây
giáp thửa 109 dài (4,52m + 1,69m + 4,55m); Nam giáp đất bà Trần Thị L1 dài
(32,35m + 1,4m); Bắc giáp đất ông Trương Kim H2, bà Phan Thị Hải Y1 dài
33,43m.
- Buộc bà Trần Thị L1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà cấp 4 diện tích 220m2 và
các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất
372,2m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 17). Vị trí thửa đất tại phường B,
tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài (9,86m + 1,25m); Tây giáp thửa 109
dài 11,64m; Nam giáp đường bê tông dài 30,68m + 1,24m; Bắc giáp đất ông Võ
Xuân T3, bà Lê Thị H1 dài 32,35m.
(Vị trí, tứ cận, kích thước, diện tích các thửa đất được thể hiện theo Trích
đo hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH Đ2 ngày 16/01/2024, được gửi kèm
Bản án)
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đồng Đức Đ, bà Trần Thị L1 thuộc
thửa đất số 87 tờ bản đồ 57, diện tích 2.512,2m², toạ lạc tại phường T, Tp . tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường B) có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của
hợp đồng vô hiệu bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[3.5] Về xác định di sản thừa kế: Quá trình giải quyết các đương sự đều
thừa nhận 03 thửa đất gồm: Thửa số 3, tờ bản đồ 18 diện tích 1.403 m2; Thửa
đất 101, tờ bản đồ 12, diện tích 103.6m2; thửa đất số 3 thuộc tờ bản đồ 57, diện
tích 5.252 m2 có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị H7 (là mẹ của bà Đồng Thị V và
ông Đồng Đức Đ) tạo lập từ trước năm 1975. Tháng 11 năm 2000 bà H7 chết,
nguyên đơn cho rằng bà H7 không để lại di chúc, đại diện theo ủy quyền của bị
đơn trình bày bà H7 có làm di chúc cho ông Đ nội dung: “Ông Đ được toàn
-- 13 of 22 --
14
quyền sử dụng và đứng tên thửa đất diện tích 5000 m2 đất trồng cây nông
nghiệp và thửa đất diện tích 1000 m2 đất trồng rau”. Việc lập di chúc sự chứng
kiến của ông Trần Ngọc A và bà Đồng Thị V. Tuy nhiên đại diện ủy quyền bị
đơn và các đương sự trong vụ án đều không cung cấp được chứng cứ chứng
minh bà H7 có lập di chúc như trình bày trên. Do đó có căn cứ xác định di sản
thừa kế do bà Nguyễn Thị H7 để lại chưa phân chia bao gồm:
1. Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 57, diện tích là 5.252m².
2. Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.403m².
3. Thửa đất số 101, tờ bản đồ số 12, diện tích 103,6m².
[3.6] Về xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị H7, sinh năm
1927 (chết năm 2000) gồm: Bà Đồng Thị V và ông Đồng Đức Đ.
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ (chết năm 2013) gồm: Bà
Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T.
[3.7] Về phân chia di sản thừa kế: Di sản thừa kế của bà H7 để lại mà
nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế chỉ là Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 57, diện
tích là 5.252m², theo kết quả định giá thì quyền sử dụng đất và tài sản trên đất có
giá 71.741.038.000đ (quyền sử dụng đất giá 61.468.923.000 đồng, tài sản trên
đất giá 10.272.115.000 đồng). Xét thấy tài sản trên đất đều do những người nhận
chuyển nhượng của ông Đ bà L1 tạo lập nên chỉ phân chia giá trị quyền sử dụng
đất là phù hợp. Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của bà H7 là bà Đồng Thị V và
ông Đồng Đức Đ mỗi người ½ di sản thừa kế (phần của ông Đ giao cho hàng
thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng
Ngọc Thái T). Cụ thể ông Đ và bà V mỗi người được hưởng giá trị
30.734.461.500 đồng.
Xét nguyện vọng của bà V muốn được chia di sản thừa kế theo hiện vật,
hơn nữa bà V là con ruột của bà H7 nên xét thấy việc giao đất cho bà V quản lý
sử dụng là phù hợp. Tuy nhiên hiện tại hầu hết thửa đất số 03 tờ bản đồ số 57 đã
được chuyển nhượng cho người khác, chỉ còn thửa đất số 87 tờ bản đồ số 57
(được tách ra từ thửa số 03 tờ bản đồ số 57) hiện bà L1 đang đứng tên trên
GCNQSDĐ. Để tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những
người đã nhận chuyển nhượng hợp pháp từ ông Đ bà L1 thì cần chia thửa đất số
87 cho bà V, còn phần diện tích còn lại (theo trích đo hiện trạng là thửa số
1,2,3,4,5,8,9,10,11) chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ là phù hợp. Theo
kết quả định giá thì giá trị thửa đất số 87 là 26.289.529.000đ (theo trích đo hiện
trạng thì thửa 87 bao gồm các thửa 6,7,12,13,14,15,16,17). Như vậy hàng thừa
kế thứ nhất của ông Đ (bao gồm bà L1, ông N, bà T) còn phải có nghĩa vụ thối
lại cho bà V giá trị kỉ phần thừa kế mà bà V được nhận là 30.734.461.500đ -
26.289.529.000đ = 4.444.932.500đ.
[3.8]. Xét nội dung kháng nghị:
+ Căn cứ theo Công văn số 444/CNBMT-TTLT của Văn phòng đăng ký
đất đai thành phố B ngày 06/3/2025 cung cấp nội dung: Bà Ninh Thị B, ông Vũ
Hoàng T10 hiện là chủ sử dụng đối với thửa đất số 86, tờ bản đồ 57, diện tích
-- 14 of 22 --
15
180.1m2 theo Giấy CNQSDĐ số CM 143407 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 24/01/2018. Thửa đất thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ
57, diện tích 5.252m2 đang tranh chấp, ngày 03/5/2017 bà L1 ký hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 2.693 m2 đất cho ông Y Wơn N1. Ngày
25/12/2017 ông Y Wơn N1 đã tách diện tích đất trên thành 02 thửa đất số 86 và
87. Cùng ngày 25/12/2017 ông Y Wơn N1 chuyển nhượng thửa đất số 86 cho
ông B bà T10. Hiện nay thửa đất số 86 đang thế chấp tại Ngân hàng N7 - Chi
nhánh H9, Đắk Lắk ngày 19/9/2023. Tuy nhiên Tòa án không đưa Ngân hàng
tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
+ Đối với thửa đất 106, tờ bản đồ số 57 ông Nguyễn Đăng C là chủ sử
dụng đất theo Giấy CNQSDĐ số CS 099407 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Đ cấp ngày 03/01/2020. Thửa đất trên do ông Đ, bà L1 chuyển nhượng cho
ông C vào năm 2016. Hiện thửa đất tranh chấp trên đang thế chấp tại Ngân hàng
TMCP Đ3 - Chi nhánh Đ4 ngày 28/9/2020. Tuy nhiên Tòa án không đưa Ngân
hàng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là vi phạm
khoản 6 Điều 68 BLTTDS.
HĐXX xét thấy: Vì chia cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm bà
Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T phần diện tích trong đó
có thửa đất số 86 và thửa số 106 tờ bản đồ số 57, các hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cùng GCNQSDĐ liên quan đến 02 thửa đất này không bị hủy
nên xét thấy không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng N7 và Ngân
hàng TMCP Đ3. Nên không cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm để tránh kéo dài
thời gian giải quyết vụ án, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự.
[3.9] Từ các nhận định trên xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo
của nguyên đơn, chấp nhận thay đổi kháng nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa
đối với Quyết định kháng nghị số 948/QĐ-VKS-DS ngày 29/10/2025 của Viện
trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk - Sửa Bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định
nêu trên.
[4]. Về chi phí tố tụng: Vì sửa bản án sơ thẩm nên cần xác định lại nghĩa
vụ chịu chi phí tố tụng như sau: Bà Đồng Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của
ông Đ (gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T) mỗi bên
phải chịu ½ chi phí tố tụng. (Chi phí thẩm định giá tài sản 65.000.000đ + Chi
phí đo vẽ kỹ thuật lần một 5.766.000đ + Chi phí đo vẽ kỹ thuật lần hai
6.988.000đ + chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm 1.000.000đ) :
2 = 39.377.000đ. Vì bà V đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên nên bà V được
nhận lại số tiền 39.377.000đ sau khi thu được từ bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N
và bà Đồng Ngọc Thái T.
Chi phí giám định chữ ký: Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ
(gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T) phải chịu
5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Bà V được nhận lại 5.400.000đ
(Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) sau khi thu được từ bà Trần Thị L1, ông Đồng
Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T.
-- 15 of 22 --
16
[4]. Về án phí DSST: Vì sửa bản án sơ thẩm nên cần xác định lại nghĩa
vụ chịu án phí sơ thẩm như sau:
Nguyên đơn bà Đồng Thị V là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên
miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bà V. Được nhận lại số tiền: 300.000đ đã nộp
theo Biên lai thu số 0007453 ngày 18/6/2018; 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0008075 ngày 17/9/2018; 53.300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003877 ngày
19/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (nay là
Phòng thi hành án dân sự khu vực Buôn M - Đắk Lắk)
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ (gồm bà Trần Thị L1, ông
Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T) phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần di
sản thừa kế được chia = 112.000.000đ + 0.1% x (30.734.461.500đ –
4.000.000.000đ) = 138.734.000đ (làm tròn số).
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đồng Thị V được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào Điều 299; khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều Điều 122, Điều 123, Điều 131, Điều 133, Điều 166, Điều 422,
- Căn cứ Điều 106, Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
[2]. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đồng Thị V; chấp nhận thay đổi kháng
nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa đối với Quyết định kháng nghị số 948/QĐ-
VKS-DS ngày 29/10/2025 của Viện trưởng VKSND tỉnh Đắk Lắk - Sửa một
phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 174/2025/DSST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk.
Hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 174/2025/DSST ngày 29 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk và đình chỉ giải quyết vụ
án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị V về yêu cầu chia di sản thừa kế
đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ 12, diện tích 103.6m2; Thửa đất số 03, tờ bản
đồ số 18, diện tích 1.403m², toạ lạc tại phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là
phường B).
[2.1]. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị V.
[2.1.1] Tuyên bố văn bản từ chối quyền thừa kế có tên Đồng Thị V được
ủy ban nhân dân phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) chứng thực
ngày 8 tháng 11 năm 2007 là vô hiệu.
-- 16 of 22 --
17
[2.1.2] Tuyên bố Giấy uỷ quyền ngày 20/12/2005 được UBND phường T,
thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) chứng thực ngày 20/12/2005 chấm
dứt hiệu lực kể từ ngày 21/12/2006.
[2.1.3] Tuyên bố Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày
22/4/2013 số 3029, quyển số 04/CC-SCC/HĐGD giữa bà Trần Thị L1 với ông
Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T tại Văn phòng C2 vô hiệu.
[2.1.4] Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
03/5/2017, số 12, quyển số 01/2017TP/CC-SCT/HĐGD tại UBND phường T,
Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) giữa bà Trần Thị L1 với ông Y Wơn N1,
đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ số 57 diện tích là 2.692,6m², toạ lạc tại phường
T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) vô hiệu.
Hủy GCNQSDĐ số CL 068273 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 29/8/2017 cho ông Y Wơn N1 đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ số
57, diện tích là 2.692,6m², toạ lạc tại phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là
phường B);
[2.1.5] Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
25/12/2017 số chứng thực 33 quyển số 01/2017-SCT/HĐ,GD tại UBND phường
T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) giữa ông Y Wơn N1 với bà Trần Thị L1
đối với thửa đất số 87 tờ bản đồ số 57, diện tích 2.512,2m² toạ lạc tại phường T,
Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) vô hiệu
Hủy GCNQSDĐ số CM 143408 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Đ cấp ngày 24/01/2018 cho bà Trần Thị L1 đối với thửa đất số 87 tờ bản đồ 57,
diện tích 2.512,2m², toạ lạc tại phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B).
[2.1.6] Tuyên vô hiệu đối với các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất sau: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1
với ông Đoàn Hữu G ngày 30/7/2016; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 20/02/2002 giữa ông Đồng Đức Đ, bà Trần Thị L1 với ông Bạch Thanh
H3; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông
Nguyễn Xuân T6; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần
Thị L1 với ông Huỳnh Ngọc V1 bà Trần Thị N4; Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với ông Trương Thanh T11, bà Nguyễn
Thị Hải Q; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trương
Thanh T11, bà Nguyễn Thị Hải Q với ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai
N6; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với bà
Phạm Thị Hải Y ngày 10/10/2013; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa bà Trần Thị L1 với ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 công chứng ngày
03/10/2013.
- Buộc ông Đoàn Hữu G tháo dỡ, đập bỏ các vật kiến trúc trên đất để trả
lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 147,7m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số
07). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đất ông Hồ Thanh T2
dài 29,42m; Tây giáp đất ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4 dài
29,49m; Nam giáp đất ông Nguyễn Xuân T6 dài 4,96m; Bắc giáp hẻm N 5,07m.
-- 17 of 22 --
18
- Buộc ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4 tháo dỡ, đập bỏ
căn nhà hai tầng diện tích 163m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho
bà Đồng Thị V diện tích đất 201,8m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 06). Vị
trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đất ông Đoàn Hữu G dài
(29,49m + 9,17m); Tây giáp thửa 59 dài 39,51m; Nam giáp đất ông Nguyễn
Xuân T6 dài 5,09m; Bắc giáp hẻm N 5,82m.
- Buộc ông Nguyễn Xuân T6 di dời, chặt bỏ tất cả cây chuối đã trồng trên
đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 366,1m2 (Theo trích đo hiện trạng
là thửa số 14). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê
tông dài 11,99m; Tây giáp đất ông Bạch Thanh H3, bà Nguyễn Thị Hoàng H4
dài (9,17m + 3,17m); Nam giáp đất ông Huỳnh Ngọc V1 dài 33,56m; Bắc giáp
đất ông Đoàn Hữu G, ông Hồ Thanh T2, ông Nguyễn Bá N2 và bà Nguyễn Thị
N3 dài (5,09m + 4,96m + 6,0m + 18,58m).
- Buộc ông Huỳnh Ngọc V1, bà Trần Thị N4 di dời, chặt bỏ tất cả cây
chuối đã trồng trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất 173m2 (Theo
trích đo hiện trạng là thửa số 13). Vị trí thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk.
Đông giáp đường bê tông dài 5,15m; Tây giáp thửa 109 dài 5,19m; Nam giáp
đất ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 dài 33,45m; Bắc giáp đất ông
Nguyễn Xuân T6 dài 33,56m.
- Buộc ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 tháo dỡ, đập bỏ toàn
bộ tường rào bê tông, cổng sắt và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà
Đồng Thị V diện tích đất 169,7m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 12). Vị trí
thửa đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông 5,05m; Tây giáp
thửa 109 dài 5,04m; Nam giáp đất ông Trương Kim H2, bà Phạm Thị Hải Y dài
(22,9m + 10,13m + 0,43m); Bắc giáp đất ông Huỳnh Ngọc V1, bà Trần Thị N4
dài 33,45m.
- Buộc ông Trương Kim H2, bà Phan Thị Hải Y1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà
cấp 4 diện tích 180m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng
Thị V diện tích đất 432,2m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 15). Vị trí thửa
đất tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài 12,99m; Tây giáp
thửa 109 dài (6,0m + 7,03m); Nam giáp đất ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 dài
33,43m); Bắc giáp đất ông Nguyễn Thanh T5, bà Hoàng Thị Mai N6 dài (22,9m
+ 10,13m + 0,43m).
- Buộc ông Võ Xuân T3, bà Lê Thị H1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà cấp 4 diện
tích 148,2m2, nhà ở diện tích 29m2, dãy phòng trọ diện tích 51m2 và dãy phòng
trọ diện tích 61,2m2 và các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị
V diện tích đất 351,1m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 16). Vị trí thửa đất
tại phường B, tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài (5,46m + 4,58m); Tây
giáp thửa 109 dài (4,52m + 1,69m + 4,55m); Nam giáp đất bà Trần Thị L1 dài
(32,35m + 1,4m); Bắc giáp đất ông Trương Kim H2, bà Phan Thị Hải Y1 dài
33,43m.
- Buộc bà Trần Thị L1 tháo dỡ, đập bỏ căn nhà cấp 4 diện tích 220m2 và
các vật kiến trúc khác trên đất để trả lại cho bà Đồng Thị V diện tích đất
-- 18 of 22 --
19
372,2m2 (Theo trích đo hiện trạng là thửa số 17). Vị trí thửa đất tại phường B,
tỉnh Đắk Lắk. Đông giáp đường bê tông dài (9,86m + 1,25m); Tây giáp thửa 109
dài 11,64m; Nam giáp đường bê tông dài 30,68m + 1,24m; Bắc giáp đất ông Võ
Xuân T3, bà Lê Thị H1 dài 32,35m.
(Vị trí, tứ cận, kích thước, diện tích các thửa đất được thể hiện theo Trích
đo hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH Đ2 ngày 16/01/2024, được gửi kèm
Bản án)
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Các đương sự nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Đồng Đức Đ, bà Trần Thị L1 thuộc
thửa đất số 87 tờ bản đồ 57, diện tích 2.512,2m², toạ lạc tại phường T, Tp . tỉnh
Đắk Lắk (nay là phường B) có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết hậu quả của
hợp đồng vô hiệu bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
[2.1.7] Xác định thửa đất số 03, tờ bản đồ số 57, diện tích 5.252m2 toạ lạc
tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B) là di sản thừa kế của
bà Nguyễn Thị H7.
Hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị H7 bao gồm: Bà Đồng Thị V
và ông Đồng Đức Đ.
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ gồm: Bà Trần Thị L1, ông
Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T.
[2.1.8] Về phân chia di sản thừa kế: Chia cho hàng thừa kế thứ nhất của
bà Nguyễn Thị H7 là bà Đồng Thị V và ông Đồng Đức Đ mỗi người ½ di sản
thừa kế (phần của ông Đ giao cho hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ gồm bà Trần
Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T). Cụ thể ông Đ và bà V mỗi
người được hưởng giá trị 30.734.461.500 đồng (Ba mươi tỷ bảy trăm ba mươi tư
triệu bốn trăm sáu mốt nghìn năm trăm đồng).
[2.1.9] Chia cho bà Đồng Thị V trực tiếp quản lý, sử dụng đối với thửa đất
số 87 tờ bản đồ số 57, diện tích 2.512,5m2, tọa lạc tại phường T, tỉnh Đắk Lắk
(nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk) theo GCNQSDĐ số CM143408 được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 24/01/2018 cho bà Trần Thị L1. (Theo
trích đo hiện trạng thửa đất của Công ty TNHH Đ2 ngày 16/01/2024 thì thửa số
87 bao gồm các thửa 6,7,12,13,14,15,16,17. Vị trí, tứ cận, kích thước, diện tích
các thửa đất được thể hiện tại phần [2.1.6] của Bản án này).
Bà Đồng Thị V được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
để làm thủ tục chuyển đổi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất được chia trên và thực hiện các nghĩa vụ tài chính nếu có theo quy định
pháp luật.
[2.1.10] Chia diện tích còn lại của thửa đất số 03 tờ bản đồ số 57 tại
phường T, tỉnh Đắk Lắk (hiện đã chuyển nhượng cho nhiều người khác) cho
hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ (gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ
N và bà Đồng Ngọc Thái T). (Theo trích đo hiện trạng thửa đất của Công ty
-- 19 of 22 --
20
TNHH Đ2 ngày 16/01/2024 là các thửa 1,2,3,4,5,8,9,10,11. Vị trí, tứ cận, kích
thước, diện tích các thửa đất được thể hiện tại Bản trích đo hiện trạng thửa đất).
[2.1.11] Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ gồm: Bà Trần Thị
L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T có nghĩa vụ phải thối lại giá trị kỉ
phần thừa kế cho bà Đồng Thị V là 4.444.932.500đ (Bốn tỷ bốn trăm bốn mươi
bốn triệu chín trăm ba mươi hai nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối
với khoản tiền nêu trên, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng
tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự
năm 2015.
[2.2] Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đồng Thị V về
yêu cầu tuyên hủy và tuyên vô hiệu đối với:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ, bà
Trần Thị L1 với ông Hồ Thanh T2 đối với thửa đất số 18 tờ bản đồ số 03 diện
tích 1.403m2 cùng GCNQSDĐ số BB 797556;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hồ Thanh T2, bà
Lê Thị Thu N5 với ông Nguyễn Đăng K đối với thửa đất số 18 tờ bản đồ số 03
diện tích 1.403m2 cùng phần chỉnh lý biến động sang tên ông Nguyễn Đăng K;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị L1 với
ông Nguyễn Quang M1, đối với thửa đất số 101 tờ bản đồ số 12, diện tích
103,6m2 cùng GCNQSDĐ số CM 143196;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ với
bà Vương Thị T1 đối với thửa đất số 3A tờ bản đồ số 57, diện tích 784m2 cùng
GCNQSDĐ số AB 509873;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đồng Đức Đ với
bà Nguyễn Thị Phương H8 đối với thửa đất số 3B tờ bản đồ số 57 diện tích
414m2 cùng GCNQSDĐ số AH 932934;
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Y Wơn N1 với
ông Vũ Hoàng T10, bà Ninh Thị B đối với thửa đất số 86 tờ bản đồ số 57 diện
tích 180,1m2 cùng GCNQSDĐ số CM 143407;
[3] Về biện pháp khẩn cấp tạm thời: Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 14/2018/QĐ-BPKCTT ngày 12 tháng 9 năm
2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 1 – Đắk Lắk)
[4] Về chi phí tố tụng: Bà Đồng Thị V và hàng thừa kế thứ nhất của ông
Đồng Đức Đ (gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T)
mỗi bên phải chịu 39.377.000đ (Ba mươi chín triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn
đồng). Vì bà V đã nộp tạm ứng toàn bộ số tiền trên nên bà V được nhận lại số
tiền 39.377.000đ (Ba mươi chín triệu ba trăm bảy mươi bảy nghìn đồng) sau khi
thu được từ bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T.
-- 20 of 22 --
21
Chi phí giám định chữ ký: Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ
(gồm bà Trần Thị L1, ông Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T) phải chịu
5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Bà V được nhận lại 5.400.000đ
(Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) sau khi thu được từ bà Trần Thị L1, ông Đồng
Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T.
[5]. Về án phí DSST: Nguyên đơn bà Đồng Thị V là người cao tuổi, có
đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà V. Bà V
được nhận lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số
0007453 ngày 18/6/2018; 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu
số 0008075 ngày 17/9/2018; 53.300.000 đồng (Năm mươi ba triệu ba trăm
nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0003877 ngày 19/4/2021 của Chi cục thi hành
án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực
Buôn M - Đắk Lắk)
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Đồng Đức Đ (gồm bà Trần Thị L1, ông
Đồng Sỹ N và bà Đồng Ngọc Thái T) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với
phần di sản thừa kế được chia là 138.734.000đ (Một trăm ba mươi tám triệu bảy
trăm ba mươi bốn nghìn đồng) (làm tròn số).
[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đồng Thị V được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND TC; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Bùi Quốc Hà
-- 21 of 22 --
22
-- 22 of 22 --
Trích dẫn văn bản (4 chuẩn)Mở
báo chí, pháp lý
Trích dẫn cho báo chí, học thuật, luật học QT, LaTeX. Click để chuyển định dạng.
⚠️ Báo lỗi văn bản
Phát hiện sai số hiệu, sai ngày, thiếu nội dung? Click để soạn email báo về VietLex.
Văn bản liên quan
Nguồn: mạng tri thức VietLex (liên kết trích tự động từ văn bản chính thống)