Điều 54. của Bộ luật Hình sự, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người
phạm tội trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể. Tuy nhiên, trước tình
hình diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, thì việc đề nghị một mức hình phạt
tương xứng với hành vi của bị cáo T1 là cần thiết, nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Đức N, Nguyễn Đức Hoàng A, Trần Thanh
T1 thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng
Ninh đã truy tố là đúng. Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm
tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên: trong
quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành
vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các
hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh, tình tiết định khung hình phạt, điều luật Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 4 - Quảng Ninh truy tố:
[2.1] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội: tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn
-- 6 of 13 --
7
Đức N, Nguyễn Đức Hoàng A, Trần Thanh T1 khai báo thành khẩn về hành vi phạm
tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo
tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài
liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án: như biên bản kiểm tra hành chính, biên bản
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện
trường, lời khai của những người nhập cảnh trái phép và các tài tài liệu chứng cứ
khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra và công bố công
khai tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: trong các ngày 04/6/2025, 06/6/2025, tại khu
vực xã Đ, phường M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức N sử dụng xe ô tô nhãn hiệu
Innova màu bạc, biển kiểm soát 29A- 456.87 và Nguyễn Đức Hoàng A sử dụng xe
ô tô Innova, màu nâu vàng, biển kiểm soát 30Y-6676, có hành vi 02 lần tổ chức cho
người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam trong đó N thu
lợi 22.000.000 đồng còn Hoàng A thu lợi 22.000.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ ngày
17/6/2025, tại khu vực Đ, xã Đ, Quảng Ninh, Nguyễn Đức N và Nguyễn Đức Hoàng
A cùng Trần Thanh T1 giúp sức tiếp tục sử dụng hai xe ô tô nêu trên tổ chức người
Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam th ì bị Phòng Q Công
an tỉnh Q kiểm tra, bắt giữ. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức N, Nguyễn
Đức Hoàng A, Trần Thanh T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức cho
người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại Điều 348 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi,
bổ sung năm 2025) như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn
cứ, đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết định khung hình phạt: trong các ngày 04/6/2025, 06/6/2025,
tại khu vực xã Đ, phường M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đức N và Nguyễn Đức
Hoàng A có hành vi sử dụng xe ô tô 02 l ần tổ chức cho 13 người Trung Quốc nhập
cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam. Đến khoảng 03 giờ ngày 17/6/2025,
tại khu vực Đ, xã Đ, Quảng Ninh, Nguyễn Đức N và Nguyễn Đức Hoàng A cùng
Trần Thanh T1 tiếp tục sử dụng xe ô tô tổ chức cho 12 người Trung Quốc nhập cảnh
trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam. Như vậy Nguyễn Đức N, Nguyễn Đức
Hoàng A đã cùng nhau tổ chức cho 25 người nhập cảnh trái phép còn Trần Thanh
T1 giúp sức cho N và Hoàng A tổ chức cho 12 người nhập cảnh trái phép. Do đó,
các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung hình phạt là “đối
với 11 người trở lên” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 348 của Bộ luật Hình sự (sửa
đổi, bổ sung năm 2025).
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm
phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực nhập cảnh, gây ảnh hưởng xấu
đến an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm mới có
tác dụng giáo dục, ngăn chặn và phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy đây là vụ án
có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo N là người trực tiếp liên hệ, quen
biết với đối tượng “Ngọng” là người có nhu cầu thuê người chở người Trung Quốc
nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Sau khi chở người cho “Ngọng” N rủ thêm
Nguyễn Đức Hoàng A (là người thân thích trong gia đình) tham gia chở người cùng
N, Hoàng A hưởng ứng tích cực. Cả hai sử dụng ô tô cá nhân và đều nhận thông tin
-- 7 of 13 --
8
trực tiếp từ “Ngọng”. Tiền công sau mỗi chuyến “Ngọng” chuyển vào tài khoản ngân
hàng do N và Hoàng A chỉ định. Do đó, xác định vai trò của N và Hoàng A là ngang
nhau. Đối với bị cáo T1 là bạn của Hoàng A, do đang thất nghiệp nên Hoàng A rủ
T1 đi phụ xe cho Hoàng A, mỗi chuyến Hoàng A trả cho T1 ít nhất 500.000 đồng.
T1 không tham gia bàn bạc vào việc đón người Trung Quốc, không biết việc N và
Hoàng A thường xuyên chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, mặc dù lái xe
cho Hoàng A chở người Trung Quốc vào các ngày 04/6/2025, 06/6/2025 và ngày
16/6/2025 tuy nhiên chỉ đến sau ngày 06/6/2025 T1 mới được Hoàng A nói cho biết
việc đang tham gia cùng Hoàng A là chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, do
đó T1 là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng vai trò không đáng kể. Khi
quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử cần xem xét đến vai trò,
đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ các bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm
trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo, để đưa ra mức hình phạt phù hợp với hành
vi của từng bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Nguyễn Đức N và
Nguyễn Đức Hoàng A đều phạm tội hai lần trở lên, nên bị áp dụng tình tiết tăng
nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung
năm 2025).
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại
phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1
Điều 54. của Bộ luật Hình sự xem xét, quyết địn h hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt, nhưng không trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật,
mà ấn định mức hình phạt trong khung hình phạt tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật
Hình sự thể hiện tính nhân đạo và khoan hồng trong chính sách pháp luật hình sự,
đồng thời xét thấy bị cáo T1 có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết
bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội, việc cho bị cáo hưởng
án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự,
an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án
treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung và việc đề
nghị mức hình phạt từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo đối với bị cáo T1 như
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận. Do đó, không
-- 8 of 13 --
9
chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc về áp dụng mức hình phạt thấp hơn
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo T1.
[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu
nhập ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các
bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max màu trắng, 01 (một) điện
thoại nhãn hiệu OPPO Reno6 5G màu xanh đen, 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO
Reno2 F màu xanh da trời thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức N, bị cáo sử dụng vào
việc phạm tội, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu, tiêu hủy các số
sim kèm theo.
- 01 (một) điện thoại Samsung màu tím nhãn hiệu Galaxy S24 Ultra, thu giữ
của bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch
thu, nộp ngân sách Nhà nước. Tịch thu, tiêu hủy số sim thuê bao kèm theo.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu trắng, kèm một sim thuê
bao thu giữ của bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A, bị cáo không sử dụng vào việc phạm
tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung Glaxy S22 Ultra màu tím thu giữ
của bị cáo Trần Thanh T1, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội, nên cần trả lại
cho bị cáo.
- Đối với số tiền thu lợi bất chính tổng số 44.000.000 đồng do các bị cáo phạm
tội mà có, cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Trả lại bị cáo Nguyễn Đức Hoàng
A số tiền 2.000.000 đồng, tiền tự nguyện nộp thừa so với số tiền thu lợi bất chính
phải tịch thu.
- 01 (một) CCCD số 030090020895 mang tên Nguyễn Đức N và 01 (một)
giấy phép lái xe Hạng C, mang tên Nguyễn Đức N; 01 (một) CCCD mang tên Trần
Thanh T1 là giấy tờ nhân thân của các bị cáo, không liên quan đến vụ án, cần trả lại
cho các bị cáo.
- 01 (một) xe ô tô, biển kiểm soát 29A-456.87, nhãn hiệu Toyota Innova cùng
giấy tờ kèm theo; 01 (một) xe ô tô, biển kiểm soát 30Y-6676 là các phương tiện duy
nhất phục vụ vào mục đích đảm bảo nhu cầu gia đình và đi lại cần trả lại cho chị
Nguyễn Thu P và chị Trương Thị D.
[10] Nội dung liên quan:
- Đối với 12 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đều khai do có nhu cầu
tìm kiếm việc làm nên đã thuê người vận chuyển vào Việt Nam bằng đường biển
trái phép. Mười hai người Trung Quốc chưa bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực
xuất, nhập cảnh.
- Đối với việc Nguyễn Đức N mượn tài khoản ngân hàng M1 mang tên
Nguyễn Đức M; Nguyễn Đức Hoàng A mượn tài khoản ngân hàng M1 mang tên
-- 9 of 13 --
10
Nguyễn Thị Tuyết . M và T3 không biết việc N và Hoàng A chở người Trung Quốc
trái phép, nên không đủ căn cứ xử lý.
- Đối với số tài khoản “Ngọng” sử dụng chuyển tiền cho Nguyễn Đức N và
Nguyễn Đức Hoàng A, xác định là tài khoản của chị Nguyễn Thị Thu T9 tại: phường
N, thành phố Hải Phòng. Chị T7 làm dịch vụ chuyển tiền, đổi tiền cho các khách
hàng, không biết việc chuyển tiền liên quan đến chở người Trung Quốc nhập cảnh
trái phép, do vậy không có căn cứ để xử lý.
- Đối với người nam giới sử dụng số điện thoại 0353.950.196 thuê Nhị, Hoàng
A chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép, xác định chủ số thuê bao là Vũ Đức
D3 (sinh năm 1992; trú tại: thôn V, T, Đ, Quảng Ninh). Cách đây khoảng 01 năm
thì D3 làm mất điện thoại này và sử dụng số điện thoại khác để liên lạc. Anh D4
không quen biết với N, Hoàng A và không liên quan đến việc tổ chức cho người
Trung Quốc nhập cảnh trái phép, nên không đủ căn cứ xử lý.
- Đối với người sử dụng số điện thoại 0828.568.934 liên lạc với Nguyễn Đức
N trong quá trình chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào ngày 17/6/2025,
xác định chủ thuê bao là Cháo A L2 (sinh ngày 02/8/2007; CCCD số 011207007168;
địa chỉ: Bản H, P, M, Điện Biên). Xác minh tại địa phương, không có thông tin công
dân tên Cháo A L2, nhưng có công dân mang tên Chảo A L3, sinh ngày: 02/8/2007;
CCCD số 011207007168, trú tại Bản H, xã N, tỉnh Điện Biên (trước đây là Bản Huổi
Lụ 1, xã P, huyện M, Điện Biên). Chảo A L3 đi làm thuê tại Bắc Ninh từ tháng
2/2025 và đăng kí tạm trú tại M, phường P, tỉnh Bắc Ninh. Xác minh tại phường P,
tỉnh Bắc Ninh, có trường hợp Chảo A L3 đăng kí tạm trú nhưng không có mặt tại
địa phương, không xác định được người này đi đâu làm gì nên Cơ quan điều tra
không có điều kiện xác minh, làm rõ nên sẽ tiếp tục xác mình, làm rõ sau.
- Đối với 12 biển số thu giữ trên xe của Nguyễn Đức N và Nguyễn Đức Hoàng
A, quá trình điều tra, N và Hoàng A khai đặt mua trên mạng. Cơ quan An ninh điều
tra đã tách nguồn tin về tội phạm liên quan đến việc mua, sử dụng các biển số giả
của các bị can Nguyễn Đức N, Nguyễn Đức Hoàng A để tiếp tục kiểm tra, xác minh
sau.
[12] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt và điều luật áp dụng:
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung
năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức cho
người khác nhập cảnh trái phép” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
24/6/2025.
-- 10 of 13 --
11
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung
năm 2025). Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A 07 (bảy) năm tù, về tội “Tổ chức
cho người khác nhập cảnh trái phép” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
24/6/2025.
- Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 348, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
khoản 2 Điều 54, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự (sửa
đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Trần Thanh T1 03 (ba) năm tù, cho hưởng
án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tổ
chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
Giao bị cáo Trần Thanh T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hải Phòng
giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm
phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường
hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại
Điều 92. của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng
án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người
được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
(sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 của Điều 106 của
Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15
Pro Max màu trắng, số Imei 1: 350814296175524; Imei 2: 350814296048168 đã
qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) sim
thuê bao số 0372865678.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO
Reno6 5G màu xanh đen, số Imei 1: 868585059950056; số Imei 2:
868585059950049 đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Tịch thu,
tiêu hủy 01 (một) sim thuê bao 0793369236.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO
Reno2 F màu xanh da trời, số Imei 1: 869563045149231; số Imei 2:
869563045149223 đã qua sử dụng, không kiêm tra chất lượng bên trong. Tịch thu
01 (một) sim thuê bao số 0329082413.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại Samsung màu tím
nhãn hiệu Galaxy S24 Ultra, số I: 350518490960413; số Imei 2: 355338500960419,
điện thoại cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong. Tịch thu, tiêu hủy
01 (một) sim thuê bao số 0337598999.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A 01 (một) điện thoại nhãn hiệu
Iphone 14 Pro màu trắng, số Imei 1: 351942135841409; số Imei 2: 351942134
196276 điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và 01
(một) sim thuê bao số 0896678416.
- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh T1 01 (một) điện thoại Samsung màu tím,
-- 11 of 13 --
12
nhãn hiệu Galaxy S22 Ultra, số I: 353748820627013; số Imei 2: 354097530 627015,
điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong 01 (một) CCCD
mang tên Trần Thanh T1.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Đức N 01 (một) CCCD số 030090020895 và 01 (một)
giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Đức N.
- Trả lại chị Nguyễn Thu P 01 (một) xe ô tô, biển kiểm soát 29A-456.87, nhãn
hiệu Toyota Inova, màu bạc, xe cũ đã qua sử dụng; tình trạng bên trong xe không có
tài sản gì; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số 0826034 cấp
ngày 15/5/2025; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036973, chủ xe Dương
Thị D2; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự và bảo
hiểm tự nguyện xe ô tô số 0003066, chủ xe Dương Thị D2; 01 (một) giấy bán xe ô
tô giữa ông Nguyễn Văn T8 với Nguyễn Đức N.
- Trả lại chị Trương Thị D 01 (một) xe ô tô, biển kiểm soát 30Y-6676, nhãn
hiệu Toyota Innova, màu vàng nâu, xe cũ, đã qua sử dụng, tình trạng bên trong xe
không có tài sản gì; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định ATKT và BVMT số
4199447 cấp ngày 06/01/2025; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm
soát 30Y-6766, mang tên chủ xe Nguyễn Phương L1.
(Tình trạng số vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày
số:31/BB-THA/KV4 ngày 09/02/2026 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q và Phòng
Thi hành án dân sự khu vực 4 - Quảng Ninh).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 22.000.000đ (hai mươi hai triệu
đồng) của bị cáo Nguyễn Đức N (số tiền trên bị cáo đã tự nguyện nộp theo Biên lai
thu tiền số: 0000571 ngày 24/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)
của bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A (số tiền trên bị cáo đã tự nguyện nộp theo Biên lai
thu tiền số: 0000572 ngày 24/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh). Trả
lại cho bị cáo Nguyễn Đức Hoàng A số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), của bị
cáo Trần Thanh T1 (số tiền trên bị cáo đã tự nguyện nộp theo giấy nộp tiền mặt ngày
26/12/2025 của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh Q1).
3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố
tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết
số: 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Toà án: buộc các bị cáo Nguyễn Đức N, Nguyễn Đức Hoàng A, Trần Thanh T1, mỗi
bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ vào khoản 1 Điều 331 và khoản 1, 3 Điều 333
của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Các bị cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười
lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
-- 12 of 13 --
13
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người có QLNVLQ;
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan CSĐT, THAHS Công an tỉnh QN;
- Viện kiểm sát, Phòng THADS cùng cấp;
- Trại tạm giam Công an tỉnh QN;
- Phòng HSNV Công an tỉnh QN;
- Lưu: hồ sơ vụ án, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Đình Khoa
-- 13 of 13 --