(chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (mười hai)
tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị N từ 10.000.000
đồng đến 20.000.000 đồng; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đinh
Thị Út E và Nguyễn Thị P.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và
khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số tang vật gồm: 01 (một) cây viết bi (có ký hiệu
G.STAR), mực màu đen; 01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO là công cụ bị cáo
Nguyễn Thị N dùng vào việc bán số đề không còn giá trị sử dụng.
Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động
nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu OPPO RENO7, màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn
hiệu VIVO 1904, màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng, đây là phương tiện để các bị cáo thực hiện
việc mua bán số đề. Tiền Việt Nam 15.315.000 đồng (mười lăm triệu ba trăm mười
lăm nghìn đồng). Trong đó, số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám mươi
nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị N; số tiền 6.876.000 đồng (Sáu triệu tám trăm
bảy mươi sáu nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị P; số tiền 7.259.000 đồng (Bảy
triệu hai trăm năm mươi chín nghìn đồng) của bị cáo Đinh Thị Út E, đây là số tiền
thu lợi bất chính từ việc các bị cáo mua bán số đề, được các bị cáo tự nguyện giao
nộp.
- Bị cáo Nguyễn Thị N, Đinh Thị Út E và Nguyễn Thị Phương trình B: Các
bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi đúng như cáo trạng và luận tội của Viện
kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng các bị cáo
trình bày xin hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
-- 11 of 16 --
12
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa, các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 05/8/2025, Nguyễn Thị N, sinh năm 1970, sử
dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, gắn sim 0862.969.931,
đăng ký tài khoản Zalo tên “Tường” để nhận tin nhắn đánh bạc dưới hình thức bán
đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các đài xổ số Miền Nam với những người
tham gia mua số đề, sau đó ghi các con số và ghi số tiền bán được ra tờ giấy A4 và
giấy lịch với tổng số tiền đánh bạc được là 15.315.000 đồng (Mười lăm triệu ba
trăm mười lăm nghìn đồng), khi chưa có kết quả xổ số thì bị Công an xã Đ, tỉnh An
Giang bắt quả tang. Trong đó: Bị cáo Đinh Thị Út E sử dụng điện thoại di động
hiệu OPPO A31, màu đen, gắn sim 0825.123.474, tạo tài khoản Zalo tên “Hún”
đánh bạc (mua số đề) của các đài Bạc Liêu, Bến Tre và Vũng T3 do bị cáo
Nguyễn Thị N bán với số tiền là 7.259.000 đồng (Bảy triệu hai trăm năm mươi
chín nghìn đồng); Bị cáo Nguyễn Thị P sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO
Reno7, màu vàng, gắn sim 0372.158.129, tạo tài khoản Zalo tên “Phương Nguyễn”
đánh bạc (mua số đề) của các đài Bạc Liêu, Bến Tre và Vũng T3 do bị cáo Nguyễn
Thị N bán với số tiền là 6.876.000 đồng (Sáu triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn
đồng).
Từ ngày 01/8/2025 đến ngày 04/8/2025, bị cáo Nguyễn Thị N thực hiện
hành vi đánh bạc không xác định được người mua, người trúng đề; ngày 05/8/2025
bán số đề đã thu lợi bất chính được số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu một trăm tám
mươi nghìn đồng).
Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo đã
đánh bạc với hình thức đánh số lô, số đề. Căn cứ số tiền các bị cáo dùng đánh bạc,
Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thị N, Đinh Thị Út E và Nguyễn Thị P phạm
-- 12 of 16 --
13
tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng quy định pháp luật.
Đối với bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Đ1 thực hiện hành vi đánh bạc
bằng hình thức mua số lô, số đề nhưng chưa đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình
sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an xã Đ, tỉnh An Giang ra Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính, quy định tại khoản 1 Điều 36
Nghị định số
282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa
các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện nộp lại tiền dùng đánh bạc và thu
lợi bất chính. Sau khi bị cáo N bị bắt quả tang hành vi bán số đề, bị cáo P, Út E đã
đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s
khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.3] Về quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo là
người thành niên, có đầy đủ năng hành vi, có khả năng nhận thức và có đủ năng
lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã
hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, ảnh
hưởng xấu đến đời sống xã hội, các bị cáo biết rõ đánh bạc dưới hình thức đánh số
lô, số đề ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị pháp luật cấm, nhưng vì
muốn kiếm tiền nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Các bị
cáo không suy nghĩ đến hậu quả của việc đánh bạc ảnh hưởng đến kinh tế của gia
đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Do đó, cần xét xử
các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm để giáo dục,
cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử
nhằm tuyên truyền, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên,
Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân để
tuyên xử mức án phù hợp.
Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị
cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản
1 Điều 51 và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình
-- 13 of 16 --
14
phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi của bị
cáo và đã đủ tính răn đe, đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt
bổ sung bị cáo Nguyễn Thị N số tiền 10.000.000 đồng; Đối với bị cáo Đinh Thị Út
E và Nguyễn Thị P không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng
hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với 02 bị cáo.
[5] Về vật chứng: Thống nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự
sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N, Đinh Thị Út E và Nguyễn Thị P phạm
tội Đánh bạc.
1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17
và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (một) năm 03
(ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu)
tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2026).
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo
N số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17
và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Thị Út E 08 (tám) tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ
ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2026).
1.3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17
và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P 08 (tám) tháng tù
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ
ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2026).
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh An Giang nơi bị cáo cư trú
giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị
cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án
hình sự.
-- 14 of 16 --
15
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây viết bi (có ký hiệu G.STAR), mực màu đen;
01 (một) máy tính nhãn hiệu CASIO.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO RENO7, màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
VIVO 1904, màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
OPPO A31, màu đen, đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 15.315.000 đồng (mười lăm
triệu ba trăm mười lăm nghìn đồng). Trong đó, số tiền 1.180.000 đồng (Một triệu
một trăm tám mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị N; số tiền 6.876.000 đồng
(Sáu triệu tám trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị P; số tiền
7.259.000 đồng (Bảy triệu hai trăm năm mươi chín nghìn đồng) của bị cáo Đinh
Thị Út E.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 02/QĐ-VKSKV7 ngày 10/3/2026 của
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang và các biên lai thu tiền bút lục 268,
269, 270).
3- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và