CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcĐiều 238. Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: - Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa án là vi phạm Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định được quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Văn T1 hiện lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét 3 xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn đối với ông Hoàng Văn T1. Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Văn T1 không có con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp “Ly hôn” đối với ông Hoàng Văn T1 (cư trú tại: Xã C, tỉnh Đắk Lắk), đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. [2]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông Hoàng Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự. [3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Văn T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã C, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 21/10/2021, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T xác định mâu thuẫn hôn nhân trầm trọng và không thể hàn gắn, bà Nguyễn Thị T không còn tình cảm vợ chồng với ông Hoàng Văn T1. Đồng thời, ông Hoàng Văn T1 không tham gia tố tụng thể hiện việc không muốn hàn gắn quan hệ hôn nhân với bà Nguyễn Thị T. Mặt khác, vào ngày 05/02/2026 Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk tiến hành xác minh tình trạng quan hệ hôn nhân của vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Văn T1 tại chính quyền địa phương và địa phương xác định: Quá trình sống chung bà Nguyễn Thị T, ông Hoàng Văn T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Hiện nay, ông T1 và bà T đã sống ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2025 cho đến nay, ông T1 và bà T không có con chung. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng Văn T1 đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. 4 [3.2] Về con chung: Các đương sự không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. [4]. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [5]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH: - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
năm 2023 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng
quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Vợ chồng đã
sống ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay.
Hiện nay, xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn tình
cảm và quan tâm đến nhau, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn khả năng đoàn
tụ nên bà Nguyễn Thị T có nguyện vọng xin được ly hôn với ông Hoàng Văn T1.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng bà Nguyễn Thị T và ông Hoàng
Văn T1 không có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Văn T1 không tham gia tố tụng theo
giấy triệu tập của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn cũng không tiến
hành hòa giải được. Căn cứ Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành đưa vụ án
ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Ngày 31 tháng 3 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đắk Lắk tiến hành mở
phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Hoàng Văn T1 vắng mặt lần thứ nhất không lý do.
Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, quyết định hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng
mặt, bị đơn ông Hoàng Văn T1 vắng mặt lần thứ hai, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227,
Điều 147. ; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238, Điều 266, Điều
271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; - Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. [1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Hoàng Văn T1. [2]. Về con chung: Các đương sự không có con chung, nên không xem xét giải quyết. [3]. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. [4]. Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005140 ngày 02/12/2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. [5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. 5 TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhậ n Thẩ m phá n – Chủ tọ a phiên tò a - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 7 – Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 7 – Đắk Lắk; - UBND xã Cư M’ta, tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. Y Kăn Niê
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.