Điều 106. Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì màu
trắng được niêm phong (Vụ số 30/KL-KTHS ngày 08/01/2025, kí hiệu M1) có in
hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An
Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Thanh T7. Bên trong có
mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,5254g; 01 phong bì màu trắng
được niêm phong (Vụ số 30/KL-KTHS ngày 08/01/2025, kí hiệu M2) có in hình
dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang
và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H3, Nguyễn Thanh T7. Bên trong có 01 chai
trong suốt có nắp nhựa màu đỏ gắn ống thủy tinh trong suốt có dầu gù; 01 quẹt gas
màu xanh gắn tim lửa; 01 quẹt gas màu xanh; 01 bình thủy tinh một đầu hở; 05 ống
thủy tinh (chưa sử dụng); Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động
hiệu Samsung Galaxy A21S màu xanh gắn sim điện thoại di động số 0869601190,
số IMEI 1: 351662614253872, IMEI 2: 352465214253873; 01 điện thoại di động
hiệu Samsung Galaxy A02s; gắn sim số: 0389.947.420; số IMEI 1:
3516525688697891; số IMEI2: 359001168697899; 01 điện thoại di động hiệu
Samsung màu xanh, gắn sim số 039936577, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam:
200.000 đồng; Trả lại: 01 xe mô tô biển số 67C1 - 675.54; Nhãn hiệu: Yamaha; số
loại: Siriut; sơn: trắng xanh; số máy: E3X9E672773; số khung:
RLCUE3210KY298321, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu ông Ngô Văn L1; Trả lại:
01 xe mô tô biển số 67H1 - 235.46; Nhãn hiệu: Yamaha; số loại: Siriut; Màu sơn:
Xanh trắng; số máy: 5C6H035054; số khung: RLCS5C6H0EY035098, đã qua sử
dụng cho chủ sở hữu ông Võ Văn C.
- Tại luận cứ bào chữa cho bị cáo K, Luật sư Hồ Hữu L2 không tranh luận
với đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo ăn năn, hối cải về
hành vi phạm tội, bị cáo tự thú về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội lần đầu và
-- 6 of 13 --
7
chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn
chế theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo K không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
- Người bào chữa cho bị cáo G – Luật sư Phan Văn Đ không tranh luận với
đại diện Viện kiểm sát về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh
gia đình bị cáo G, bị cáo thuộc hộ nghèo, từ nhỏ ở với bà ngoại, không sống với
cha mẹ do ly hôn, bị cáo có học thức thấp (02/12) nên nhận thức pháp luật có phần
hạn chế; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, nhân thân tốt, không có tiền
án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị
cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- Người bào chữa cho bị cáo G – Trợ giúp viên pháp lý Lê Hồ Bích H thống
nhất với quan điểm bào chữa của Luật sư Được. Bị cáo G thuộc hộ cận nghèo, học
vấn thấp, không nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là
đặc biệt nguy hiểm cho xã hội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, từ đó đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt mà đại diện
Viện kiểm sát đã đề nghị.
- Bị cáo G không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo Q, N không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L1, ông C: không có ý kiến
tranh luận.
* Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho
bản thân và các bị cáo bị cáo còn lại, để sớm về phục giúp gia đình, trở thành
người có ít cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình
điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Đối với luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo K xin vắng mặt tại phiên toà,
xét thấy, luật sư đã gửi luận cứ bào chữa và tại phiên toà bị cáo K đồng ý xét xử
vắng mặt người bào chữa chỉ định; những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên
tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, những người làm chứng có lời khai trong quá trình
điều tra nên sự vắng mặt tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ
-- 7 of 13 --
8
án. Căn cứ vào Điều 291, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp
với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với nội dung
diễn biến của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, với
lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm
chứng. Có đầy đủ căn cứ xác định:
Các bị cáo Châu Mai Chí K, Võ Văn Q và Ngô Vĩnh N đã có hành vi mua
bán trái phép chất ma tuý nhiều lần để thu lợi bất chính, khối lượng ma tuý bị phát
hiện thu giữ là 1,0151 gam, loại Methamphetamine.
Ngoài ra, bị cáo Châu Mai Chí K còn cùng bị cáo Lê Phước G đã có hành vi
cung cấp địa điểm, chất ma túy loại Methamphetamine tổ chức cho Ngô Vĩnh N,
Nguyễn Quốc B1, Phan Thị Ngọc A (sinh ngày 21/01/2012, là người dưới 13 tuổi)
sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi của bị cáo K đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
và “Mua bán trái phép chất ma tuý” và theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255
và điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Lê Phước G đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo Võ Văn Q, bị cáo Ngô Vĩnh N đã phạm tội “Mua bán trái
phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các
bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy
định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách
nhiệm hình sự, lẽ ra các bị cáo phải chăm chỉ lao động chân chính tạo ra của cải,
vật chất để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình, là người công dân có ích cho xã
hội. Nhưng các bị cáo lại vướng vào con đường nghiện ngập, các bị cáo nhận thức
được tác hại của ma tuý nhưng vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma tuý (đối với bị
cáo K, bị cáo Q, bị cáo N), tổ chức, cung cấp ma tuý, cung cấp địa điểm, chuẩn bị
công cụ (đối với bị cáo K, bị cáo G) để thoả mãn nhu cầu sử dụng ma túy và tổ
chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi phạm tội của bị cáo Q, N là rất nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị
cáo K, bị cáo G là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến
chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu
đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây hại đến nòi giống,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người;
-- 8 of 13 --
9
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” bị cáo K, Q, N đã phạm vào
tình tiết định khung tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
Ngoài ra, đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” bị cáo K, bị
cáo G đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội “Đối với người dưới
13 tuổi”.
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Hội đồng xét xửa xét thấy, đây
là một vụ án có tính chất đồng phạm, các bị cáo cùng nhau thống nhất ý chí thực
hiện hành vi phạm tội. Bị cáo K là người chủ mưu, trực tiếp giao dịch bán ma túy
và đưa ma túy cho bị cáo Q, bị cáo N giao ma túy cho người mua nhiều lần. Bị cáo
N là đồng phạm với vai trò thực hành, giúp sức cho bị cáo K bán ma túy nhiều lần,
với khối lượng ma túy phải chịu trách nhiệm là 1,0151 gam loại
Methamphetamine. Bị cáo Q là đồng phạm với vai trò thực hành, giúp sức cho bị
cáo K bán ma túy nhiều lần.
Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đây là một vụ án có
tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn. Đối với bị cáo K với vai trò là
người cung cấp ma tuý, cùng bị cáo G chuẩn bị công cụ sử dụng ma tuý. Bị cáo G
với vai trò là người giúp sức, cung cấp địa điểm là nhà để tổ chức cho bị cáo N,
Nguyễn Quốc B1, Phan Thị Ngọc A sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị
cáo K nguy hiểm hơn bị cáo G.
Từ đó, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với mức độ, tính chất
hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang áp dụng
hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để
cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt là có căn cứ, phù hợp với hành vi
phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo G, Q, Nghi không có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo K phải chịu tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự “phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ
luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo K, N, Q tự thú các lần
mua bán ma tuý trước đó nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm r khoản 1