Mục lục - 4 điều ▼
Điều 35. , điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ Điều
5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao.
- Về trình tự tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ
tất cả các văn bản tố tụng cho các đương sự. Bị đơn - ông Nguyễn Văn L đã ký nhận
các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đều vắng mặt không có lý do, không đến Tòa
án làm việc và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông
Nguyễn Hữu N. Ông Nguyễn Văn L không đến tòa để tham gia phiên hòa giải nên
vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Do đó Tòa án quyết định đưa vụ án ra
xét xử.
Tại phiên toà sơ thẩm ngày 27/02/2026 ông N vắng mặt không có lý do. Vì vậy
-- 3 of 8 --
4
Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết
định hoãn phiên toà. Phiên toà tiếp theo được ấn định vào hồi 08 giờ 30 phút ngày
17/3/2026. Quyết định hoãn phiên toà và thông báo mở phiên tòa đã được giao hợp
lệ cho ông L theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà mở lần thứ 2 ngày 17/3/2026, ông L vẫn vắng mặt không có lý
do. Như vậy, ông L đã từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình nên phải
chịu hậu quả do Bộ luật tố tụng dân sự quy định, Tòa án căn cứ vào các tài liệu,
chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại Điều
93, Điều 96, Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập
được Hội đồng xét xử xác định:
2.1. Về tính hợp pháp của Giấy vay tiền ngày 02/11/2016: Theo trình bày của nguyên
đơn, giấy vay tiền này do ông Nguyễn Văn L là người trực tiếp viết và ký tên. Trong
thông báo thụ lý vụ án của Tòa án được giao cho ông L cũng đã thể hiện các tài liệu
mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện trong đó có Giấy vay tiền ngày
02/11/2016 (bản gốc). Ông L đã ký vào biên bản giao nhận Thông báo thụ lý này và
biết được về Giấy vay tiền ngày 02/11/2016 nhưng không có ý kiến gì. Điều đó thể
hiện việc ông L thừa nhận có Giấy vay tiền nói trên. Với việc trực tiếp viết và ký
vào giấy vay tiền của ông L đã thể hiện ý chí là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với
các quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử nhận định Giấy vay tiền trên là
hợp pháp.
2.2. Về việc áp dụng pháp luật và thời hiệu khởi kiện:
- Về việc áp dụng pháp luật: điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015 quy định:
“1. Đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực pháp
luật được quy định như sau:
b. Giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung
và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này thì áp dụng quy định của Bộ luật
này;”
Giấy vay tiền viết ngày 02/11/2016 nghĩa là việc vay tiền này được xác lập trước
ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện
xong nghĩa vụ của mình nên thuộc trường hợp giao dịch dân sự đang được thực hiện,
nội dung là hình thức của Giấy vay tiền trên phù hợp với quy định của Bộ luật dân
sự 2015 nên thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật dân sự 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 688 Bộ luật dân sự 2015 thì thời
hiệu khởi kiện trong trường hợp này được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự
-- 4 of 8 --
5
2015. Giấy vay tiền được xác định là một loại của hợp đồng vay tài sản, là một giao
dịch dân sự. Do đó, thời hiệu khởi kiện được áp dụng theo quy định tại Điều 429 Bộ
luật dân sự 2015 và Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự 2015: “Tòa án chỉ áp dụng quy
định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều
kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết
định giải quyết vụ việc”
Trong vụ án này, các bên đương sự đều không đưa ra yêu cầu áp dụng thời hiệu nên
Hội đồng xét xử không áp dụng quy định về thời hiệu.
2.3. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
2.3.1. Về yêu cầu trả tiền nợ gốc:
Giấy vay tiền ngày 02/11/2016 thể hiện ông Nguyễn Văn L vay số tiền
70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) của ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1983,
CMND số 013339372 và không tính lãi. Ông L xác nhận đã nhận đủ số tiền vay từ
ông N là 70.000.000 đồng.
Thời hạn trong giấy vay tiền có ghi 60.000.00 (ngày) kể từ ngày vay tiền
(02/11/2016), có gạch 5 (năm) số 0 (không) đằng sau số 60 (sáu mươi). Trong quá
trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn - ông N giải trình: có sự gạch xóa trong thời
hạn vay là do ông L viết nhầm và ông L đã tự xóa đi năm số không, ông N khẳng
định thời hạn cho vay là 60 ngày kể từ ngày cho vay.
Bị đơn không đến Tòa án làm việc, cũng không nộp văn bản nêu ý kiến phản
hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó đối với tình tiết này, Hội đồng
xét xử căn cứ vào phần trình bày của nguyên đơn cũng như sự thật khách quan và
tính hợp lý để xác định thời hạn cho vay là 60 ngày kể từ ngày cho vay như nguyên
đơn trình bày và xác định việc bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại
Điều 274. , Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Yêu cầu của nguyên đơn về việc
buộc bị đơn phải thanh toán số tiền gốc 70.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận.
2.3.2. Về yêu cầu tính lãi phát sinh:
Giấy vay tiền ngày 02/11/2016, ông L ghi rõ việc không tính lãi; bằng việc đã giao
số tiền 70.000.000 đồng cho ông L, ông N cũng thừa nhận và chấp nhận việc cho
vay không tính lãi. Đây là sự thoả thuận tự nguyện của các bên nên được ghi nhận.
Tuy nhiên sau khi nhận tiền, quá thời hạn 60 ngày vay nhưng ông L không thực hiện
việc trả tiền cho ông N nên ông N yêu cầu ông L phải trả cả lãi đối với số tiền gốc
chậm trả với lãi suất chậm trả ông N yêu cầu là 20%/năm.
+ Đối với yêu cầu tính lãi:
Xét việc vay tiền giữa các bên được xác lập trước ngày 01/01/2017, không có
thỏa thuận về lãi suất. Vì vậy, đây là loại hợp đồng đang được thực hiện theo hướng
-- 5 of 8 --
6
dẫn tại điểm c khoản 3 Điều 2 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao.
Theo đó, việc ông L không trả nợ gốc cho ông N thì ông N có yêu cầu ông L
phải trả lãi. Điều này phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử
chấp nhận.
+ Đối với thời điểm bắt đầu tính lãi:
Quá trình giải quyết vụ án, khi thì ông N yêu cầu ông L phải thanh toán tiền
lãi tính từ ngày vay (02/11/2016) tạm tính đến ngày khởi kiện, lúc lại yêu cầu tính
lãi từ ngày ông L vi phạm nghĩa vụ (01/01/2017). Tại phiên tòa, ông N khẳng định
lại yêu cầu khởi kiện đòi tiền lãi được tính từ ngày ông L vi phạm nghĩa vụ cho đến
khi ông L thanh toán hết khoản nợ cho ông N. Việc xác định thời điểm bắt đầu tính
lãi là ngày bắt đầu vi phạm của nguyên đơn là phù hợp với quy định pháp luật nên
được chấp nhận. Theo nội dung giấy vay tiền ngày 02/11/2016 thì thời hạn vay 60
ngày kể từ ngày vay (02/11/2016) nên Hội đồng xét xử xác định ngày vi phạm nghĩa
vụ trả nợ gốc được tính từ ngày 01/01/2017.
+ Đối với yêu cầu về lãi suất 20%/năm:
Nguyên đơn yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 20%/năm trên số tiền chậm trả
70.000.000 đồng tính từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền 01/01/2017
Quy định về lãi suất đã được quy định rõ theo khoản 2 Điều 357, khoản 4
Điều 466. Bộ luật dân sự 2015:
Lãi suất đối với số tiền vay chậm trả cũng được hướng dẫn cụ thể tại Điều 5
Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối cao: “Hợp đồng vay tài sản không có lãi mà khi đến hạn bên vay
không trả nợ hoặc trả không đầy đủ theo yêu cầu của bên cho vay, Tòa án xác định
bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468. của Bộ luật dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tại thời điểm trả nợ
tương ứng với thời gian chậm trả nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
luật có quy định khác.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (nợ gốc quá hạn chưa trả) x (lãi suất
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tại thời điểm trả nợ) x (thời
gian chậm trả nợ gốc)”
Trong vụ án này: - nợ gốc quá hạn chưa trả là 70.000.000 đồng
- lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 là 50% mức
lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 này = 10%/năm
- thời gian chậm trả nợ gốc: từ ngày 01/01/2017 đến thời điểm xét xử
(17/3/2026), thời gian chậm trả nợ gốc là 09 năm 02 tháng 16 ngày = 3362 ngày
-- 6 of 8 --
7
Theo đó: tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả = (70.000.000 đồng) x (10%/365
ngày) x (3362 ngày) = 64.476.711 đồng.
Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần đối với yêu cầu tính lãi của nguyên
đơn với số tiền lãi 64.476.711 đồng. Số tiền Hội đồng xét xử không chấp đối với yêu
cầu của nguyên đơn là 64.438.357 đồng
Như vậy, tổng số tiền gốc, lãi theo yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng
xét xử chấp nhận là 134.476.711 đồng.
[3] Về án phí:
- Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được Hội đồng xét
xử chấp nhận.
- Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều
147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 274; Điều 280; Điều 357; Điều 466; khoản 2 Điều 468; Điều 688 Bộ
luật dân sự 2015;
- Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ,
thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân;
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 củ Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi,
lãi suất, phạt vi phạm;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Hữu
N đối với bị đơn - ông Nguyễn Văn L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
2. Buộc ông Nguyễn Văn L phải trả cho ông Nguyễn Hữu N số tiền nợ gốc
là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) theo Giấy vay tiền ngày 02/11/2016 và
tiền nợ lãi tính từ ngày 01/01/2017 đến ngày 17/3/2026 là 64.476.711 đồng. Tổng
-- 7 of 8 --
8
cộng, ông Nguyễn Văn L phải trả cho ông Nguyễn Hữu N số tiền 134.476.711 đồng
(Một trăm ba mươi tư triệu, bốn trăm bảy mươi sáu nghìn, bảy trăm mười một đồng)
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông
Nguyễn Văn L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Hữu N phải nộp 3.222.000 đồng (Ba triệu, hai trăm hai mươi hai
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 4.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí
đã nộp theo biên lai số 13822 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố
Hà Nội. Ông N được nhận lại 1.578.000 đồng (Một triệu, năm trăm bảy mươi tám
nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Văn L phải nộp 6.724.000 đồng (Sáu triệu, bảy trăm hai mươi tư
nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, ông Nguyễn Hữu N có mặt
tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được
thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TANDTP Hà Nội;
- VKSND khu vực 3 - Hà Nội;
- Phòng THADS khu vực 3 - Hà Nội;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Hiển Vinh
-- 8 of 8 --