CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 6 năm 2025 và lời khai trong quá trình giải
2
có tạo điều kiện cho vợ chồng bà C, ông N thanh toán dần. Đến nay, số tiền mua
bán gạo mà vợ chồng bà Nguyễn Thị C, ông Trần Minh N chưa thanh toán là
382.365.000 đồng. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị C còn vay mượn của bà T số tiền
10.000.000 đồng để góp hụi. Tổng cộng, vợ chồng bà C, ông N còn nợ bà số tiền
392.365.000 đồng.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 (âm lịch), các bên có lập giấy xác nhận nợ, trong
đó bà Nguyễn Thị C và ông Trần Minh N xác nhận còn nợ bà T toàn bộ số tiền nêu
trên và cam kết thời hạn thanh toán là ngày 13 tháng 8 năm 2025 (âm lịch). Tuy
nhiên, khi đến hạn, vợ chồng bà C, ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bà T đã
nhiều lần liên hệ, yêu cầu thanh toán nhưng không đạt kết quả.
Bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị C và ông Trần Minh N phải
trả cho bà số tiền 392.365.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp
luật.
Quá trình hòa giải, bà T rút yêu cầu trả nợ vay, chỉ yêu cầu trả nợ mua bán.
Tại phiên tòa, bà T không yêu cầu tính lãi chậm trả, chỉ yêu cầu trả số tiền gốc.
Theo bản khai ngày 27 tháng 3 năm 2026 và lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà quen biết bà Nguyễn Thị Kim T thông qua việc mua bán gạo, bà T bán gạo
cho bà để kinh doanh quán cơm. Trước năm 2017, bà đã thanh toán đầy đủ tiền
mua bán cho bà T. Tuy nhiên, từ năm 2017, do bà bị bệnh nặng, phải điều trị trong
thời gian dài nên kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, không có khả năng tiếp tục
thanh toán nợ.
Bà xác nhận số tiền nợ mua bán gạo với bà T là 382.365.000 đồng. Đối với
khoản tiền vay 10.000.000 đồng, bà đã trả được 6.000.000 đồng, hiện còn nợ
4.000.000 đồng. Tổng số tiền bà và chồng là ông Trần Minh N còn nợ bà T là
386.365.000 đồng.
Bà thừa nhận có ký giấy xác nhận nợ ngày 13 tháng 6 năm 2025 với nội dung
còn nợ bà T số tiền như trên. Tuy nhiên, do hiện nay bà đang mắc bệnh hiểm
nghèo, sức khỏe yếu, kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng trả nợ một
lần theo yêu cầu của bà T.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.