Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư
pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì
vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố
Hồ Chí Minh.
[2]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Lâm Tấn T vắng mặt
tại phiên tòa nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông Lại Khánh Cao S có
mặt tại phiên tòa; Bị đơn ông Đặng Minh N và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị Yến N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy
định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
-- 5 of 9 --
6
[3]. Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch giữa các đương sự được xác lập vào
thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử
áp dụng dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[4]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[4.1]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy
định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện,
tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì
bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu
khởi kiện, lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bị đơn
cung cấp và các tài liệu, chứng do Tòa án thu thập để làm chứng cứ giải quyết vụ
án.
[4.2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thanh toán tiền công vận
chuyển hàng hóa:
Theo sự thừa nhận của các đương sự thì giữa ông Lâm Tấn T và ông Đặng
Minh N chỉ thỏa thuận miệng về việc vận chuyển hàng hóa (phế liệu), các bên
không có lập hợp đồng hay văn bản thỏa thuận cụ thể.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vận
chuyển tài sản như sau:
“Điều 530. Hợp đồng vận chuyển tài sản
Hợp đồng vận chuyển tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận
chuyển có nghĩa vụ chuyển tài sản đến địa điểm đã định theo thỏa thuận và giao tài
sản đó cho người có quyền nhận, bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả cước phí vận
chuyển.
Điều 531. Hình thức hợp đồng vận chuyển tài sản
1. Hợp đồng vận chuyển tài sản được giao kết bằng văn bản, bằng lời nói
hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
2. Vận đơn hoặc chứng từ vận chuyển tương đương khác là bằng chứng của
việc giao kết hợp đồng giữa các bên.”
Xét thấy, khi tham gia giao dịch, các đương sự đều là người có đầy đủ năng
lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi; việc tham gia giao dịch xuất phát từ sự tự
nguyện và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái
đạo đức của xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117, Điều 119, Điều 530, Điều
531 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nguyên đơn ông Lâm Tấn T cung cấp Giấy xác nhận công nợ đề ngày
08/02/2024 thể hiện nội dung “Đặng Minh N còn nợ tiền xe là 1.220.000.000 ghi
bằng chữ là một tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng. Tổng nợ T (một tỷ hai trăm hai
mươi triệu chẵn), Đặng Minh N ký tên”.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận nội dung
ghi nhận tại Giấy xác nhận công nợ đề ngày 08/02/2024 là thật và thể hiện đúng ý
chí của các bên, không có bất kỳ ý kiến phản đối đối với chứng cứ này. Do vậy, có
cơ sở xác định nội dung trong Giấy xác nhận công nợ đề ngày 08/02/2024 là chứng
cứ và thuộc trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và có hiệu lực pháp lý, làm phát sinh quyền
-- 6 of 9 --
7
và nghĩa vụ của các bên, nguyên đơn và bị đơn phải có trách nhiệm thực hiện các
thỏa thuận đã cam kết.
Quá trình thực hiện việc thanh toán tiền công nợ theo nội dung trong Giấy xác
nhận công nợ đề ngày 08/02/2024, nguyên đơn ông Lâm Tấn T cung cấp các sao
kê tài khoản ngân hàng thể hiện bị đơn ông Đặng Minh N đã thanh toán tổng cộng
số tiền là 360.000.000 đồng, cụ thể:
Ngày 10/6/2024: ông N thanh toán: 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng)
Ngày 23/6/2024: ông N thanh toán: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng).
Ngày 25/7/2024: ông N thanh toán: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng)
Ngảy 22/8/2024: Ông N thanh toán: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
Ngày 26/9/2024: ông N thanh toán: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Ngày 23/10/2024: ông N2 thanh toán: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Ngày 02/12/2024: ông N thanh toán: 20.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).
Ngày 24/01/2025: ông N thanh toán: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Ngày 03/4/2025: ông N thanh toán: 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng).
Ngày 21/5/2025: ông N2 thanh toán: 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).
Số tiền công vận chuyển hàng hóa mà ông N còn phải thanh toán cho ông T
là: 1.220.000.000 đồng – 360.000.000 đồng = 860.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản làm việc ngày 06/02/2026,
nguyên đơn ông Lâm Tấn T, bị đơn ông Đặng Minh N cùng thống nhất số tiền
công vận chuyển hàng hóa mà ông Đặng Minh N còn phải thanh toán cho ông T
tính đến ngày 06/02/2026 là 820.000.000 đồng. Đây là tình tiết, sự kiện thuộc
trường hợp không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 và là sự tự nguyện của các bên, có hiệu lực pháp lý nên
Hội đồng xét xử ghi nhận.
Theo quy định tại Điều 536 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định
“Nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển:
1. Trả đủ tiền cước phí vận chuyển cho bên vận chuyển theo đúng thời hạn,
phương thức đã thỏa thuận”.
Từ những căn cứ trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông Lâm Tấn T
về việc buộc bị đơn ông Đặng Minh N phải trả số tiền công vận chuyển hàng hóa
còn thiếu là 820.000.000 đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên và phù hợp
với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[4.3]. Về phương thức thanh toán tiền:
Nguyên đơn ông Lâm Tấn T yêu cầu bị đơn ông Đặng Minh N thanh toán số
tiền công vận chuyển còn thiếu là 820.000.000 đồng theo phương thức thanh toán
một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Còn bị đơn ông Đặng
Minh N yêu cầu được trả số tiền 820.000.000 đồng theo phương thức trả dần, mỗi
tháng trả 20.000.000 đồng cho đến khi trả hết số tiền trên.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ thời điểm bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán,
tạm ngưng việc thanh toán tiền cho nguyên đơn cho đến nay cũng đã mất một
khoảng thời gian dài, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền cho nguyên đơn,
-- 7 of 9 --
8
bị đơn là bên có lỗi. Bị đơn đề nghị được trả số tiền 820.000.000 đồng theo phương
thức trả dần mỗi tháng 20.00.000 đồng nhưng ý kiến này của bị đơn không được
nguyên đơn chấp nhận, đồng thời việc kéo dài thời gian trả tiền sẽ gây thiệt hại cho
nguyên đơn và không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu
được trả dần của bị đơn.
[4.4]. Về trách nhiệm trả tiền: Do nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông Đặng
Minh N có trách nhiệm trả tiền. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cá nhân ông
Đặng Minh N có trách nhiệm trả tiền cho ông Lâm Tấn T.
[5]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự
và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án thì bị đơn ông Đặng Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là
36.600.000 (ba mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Nguyên đơn ông Lâm Tấn T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92,
khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc
hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành
chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại
tại Tòa án;
Căn cứ các Điều 117, Điều 119, Điều 357, Điều 468, Điều 530, Điều 531,
Điều 533. , Điều 536 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về
lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lâm Tấn T về việc tranh
chấp hợp đồng dân sự (hợp đồng vận chuyển hàng hóa) với bị đơn ông Đặng Minh
N.
1.1. Buộc ông Đặng Minh N có trách nhiệm thanh toán cho ông Lâm Tấn T số
tiền là 820.000.000 (tám trăm hai mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi
hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
-- 8 of 9 --
9
Các đương sự có quyền thỏa thuận nơi thực hiện việc giao nhận tiền. Trường
hợp các đương sự không thỏa thuận được thì thực hiện tại cơ quan thi hành án dân
sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Ông Đặng Minh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.600.000 (ba
mươi sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng.
2.2. H lại cho ông Lâm Tấn T số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là
18.900.000 (mười tám triệu chín trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0038648 ngày 17 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự
Thành phố H.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc từ ngày bản án được
niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo
quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nơi nhận:
- TAND TP. Hồ Chí Minh (1);
- VKSND TP. Hồ Chí Minh (1);
- VKSND Khu vực 10 – TP.HCM (2);
- Thi hành án dân sự TP. HCM (1);
- Các đương sự (3);
- Lưu hồ sơ (1)
Ngô Thị Thùy Dương
-- 9 of 9 --