CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 - An
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được
nên bà yêu cầu ly hôn với ông T.
- Về con chung: có 01 (một) con chung tên Hà Gia L, sinh ngày
31/12/2018, hiện đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng con
chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung hàng tháng 1.170.000đ, thời
gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung thành
niên và có khả năng lao động.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng bị đơn ông Hà Hữu T vắng mặt không lý do, không có văn bản trình bày
ý kiến về vụ án.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn bà Phạm Thị Tuyết N giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu
nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng bà thống nhất theo mức cấp dưỡng
1.200.000đ/tháng như ông T đề xuất. Về tài sản chung và nợ chung không có
nên không yêu cầu.
Bị đơn ông Hà Hữu T thống nhất ly hôn và đồng ý giao con chung tên Hà
Gia L cho bà Nhung tiếp tục nuôi dưỡng và sẽ cấp dưỡng cho con chung hàng
tháng 1.200.000đ, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Tài sản chung và nợ
chung không có nên không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh
chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú tại xã MĐ, tỉnh An Giang. Căn cứ
khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự
nên Tòa án nhân dân khu vực 13 – An Giang thụ lý giải quyết là đúng với quy
định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nhung và ông T xác lập hôn nhân trên cơ
sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã MĐ theo giấy chứng nhận kết
hôn số 185 ngày 06/12/2018. Do đó, hôn nhân của ông bà là hợp pháp nên làm
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.