CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcngày 11 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết
2
khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 5/2025 thì phát sinh mâu
thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, kinh tế, dẫn đến
cải vả; anh T bỏ về Quy Nhơn, không quan tâm đến vợ con, anh chị đã ly thân từ
tháng 5/2025 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống
chung nặng nề, chị xin ly hôn anh T.
+ Quan hệ con chung: vợ chồng có 01 con chung cháu Đoàn Gia K sinh
ngày 01/4/2024; ly hôn chị xin nuôi cháu K, không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
+ Quan hệ tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Bị đơn anh Đoàn Ngô T không đến Toà khai báo cũng như khi hoà giải.
Tòa đã tiến hành xác minh tại địa phương, tống đạt hợp lệ theo đúng quy định
của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 1 – Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu
việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời
điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử,
thư ký phiên Tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án,
kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đúng theo quy định
pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V với anh T; con
chung giao chị V nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh T; về tài sản
chung không yêu cầu giải quyết. Án phí chị Vy phải chịu theo quy định pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án nhân dân khu vực 1 – Gia Lai đã tống đạt giấy triệu tập, thông báo
và kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà
giải, xác minh tại địa phương và thông báo phiên xét xử cho anh T nhưng anh T
đều không đến Tòa làm việc. Đây là trường hợp bị đơn cố tình lẩn tránh gây khó
khăn cho việc giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.