CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 18 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Tuyên
2
* Người làm chứng: Anh Đoàn Văn H1, sinh năm 1990; Nơi thường trú:
Thôn H, xã C, tỉnh Đắk Lắk; nơi tạm trú: Thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang, (có
đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Văn H đã có 01 tiền sự về hành vi Vận chuyển lâm sản (gỗ Nghiến)
không có hồ sơ hợp lệ (tại Quyết định số 01/QĐ-XPHC ngày 13/02/2025 của
Hạt Kiểm lâm huyện L nay là Hạt Kiểm lâm khu vực VI, tỉnh Tuyên Quang),
phạt tiền 4.000.000 đồng. Đã chấp hành nộp phạt ngày 14/02/2025, tiếp tục có
hành vi vận chuyển lâm sản trái phép, cụ thể: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày
26/01/2026, Ngô Văn H một mình điều khiển xe ô tô biển số 90C-129.83 (xe
mượn của ông Đinh Xuân D) đến khu đất trống của anh Vũ Văn Đ, sinh năm
1982, trú tại thôn T, xã B, tỉnh Tuyên Quang cách chỗ H thuê trọ khoảng 30m để
bốc 172 đoạn gỗ Nghiến dạng thớt tròn (trong đó 52 đoạn có kích thước dầy
05cm, đường kính 35cm; 110 đoạn có kích thước dầy 05cm, đường kính 30cm;
10 đoạn có kích thước dầy 05cm, đường kính 25cm) và 02 tấm gỗ Nghiến không
rõ hình có trọng lượng 38kg, mục đích chở đi bán. Bốc gỗ xong H điều khiển xe
theo hướng xã B đi xã C, trên đường đi H gọi điện thoại cho Đoàn Văn H1 rủ đi
lái thuê cho H1 thì Đoàn Văn H1 đồng ý (Đoàn Văn H1 không biết trên xe chở
gỗ N), sau đó H1 đón Đoàn Văn H1 tại cầu K thuộc xã M, tỉnh Tuyên Quang.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Ngô Văn H điều khiển xe ô tô đến Km59
+ 400 ĐT 188 thuộc thôn N, xã T, tỉnh Tuyên Quang thì bị Tổ công tác của
Phòng C1 Công an tỉnh T kiểm tra, quá trình làm việc H không xuất trình được
giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ nêu trên, nên tổ công tác đã lập biên bản và
bàn giao cho Công an xã T, tỉnh Tuyên Quang giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra xác định lâm sản bị tạm giữ có tổng khối lượng
0,596m3; Nguồn gốc lâm sản trên Ngô Văn H khai nhận là mua lại của người
dân tại xã B (không xác định được tên tuổi, địa chỉ) từ đầu năm 2025.
Kết luận giám định tư pháp số 142/CNR-VP ngày 13/3/2026 của Viện
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.