CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc2
hành án phạt tù, chị T ở nhà chăm sóc và nuôi dạy các con. Trước khi anh trở về
địa phương, khoảng tháng 09/2025 chị T đã mang hết quần áo, đồ dùng cá nhân
ra ngoài trung tâm H thuê nhà ở. Nhiều lần anh gọi điện bảo chị T về nhà ở
nhưng chị T nhất định không quay về. Thỉnh thoảng chị về thăm các con, xong
chị lại đi ngay. Anh và chị T đã nảy sinh mâu thuẫn trước khi anh đi chấp hành
án, nguyên nhân mâu thuẫn phát sinh từ việc không cùng quan điểm sống, cách
nuôi dạy con chung, không có sự chia sẻ công việc trong gia đình. Dẫn đến vợ
chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Đến nay,
anh xác định tình cảm giữa anh với chị T không còn, không thể tiếp tục chung
sống cùng nhau. Bản thân chị T cũng không mong muốn hàn gắn vợ chồng, chị
nhất quyết không về chung sống cùng anh. Anh làm đơn đề nghị Tòa án giải
quyết cho anh được ly hôn chị T để ổn định cuộc sống cho cả hai.
Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Bùi Anh Đ, sinh
ngày 16/8/2012 và cháu Bùi Quang A, sinh ngày 21/11/2016. Hiện tại, cả cháu
Đ và cháu A đều đang sinh sống cùng nhà với anh. Ly hôn, anh có nguyện vọng
được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Đ và cháu Quang A.
Về cấp dưỡng: Anh không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp hai bên gia đình: Không
có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Mai Thị Huyền T kể từ khi thụ lý vụ án Toà án đã tống đạt
hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, quyết định của Toà án cho chị T. Tuy
nhiên chị T không đến Toà để làm bản tự khai cũng không tham gia các buổi
làm việc khác nên Tòa án không lấy được lời khai của chị T và chị T cũng
không có văn bản ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tài liệu do Tòa án thu thập: Công an xã Đ cung cấp: chị Mai Thị Huyền
T, số căn cước công dân: 155189000006, sinh ngày 12/10/1989 đăng ký hộ khẩu
thường trú tại Số B, ngách A, ngõ A, phố P, xã Đ, thành phố Hà Nội. Đến nay,
chị T chưa chuyển khẩu cũng như không thực hiện đăng ký tạm trú, tạm vắng ở
địa chỉ nào khác.
Chính quyền địa phương cung cấp: Anh Q và chị T kết hôn năm 2014, sau
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.