Mục lục - 3 điều ▼
Điều 122. , Điều 127, Điều 128, Điều 131, Điều 135, Điều 137, Điều 138, Điều
256, Điều 697, Điều 722 Bộ luật dân sự năm 2005 (tương ứng các Điều 117,
Điều 122. , Điều 123, Điều 126, Điều 130, Điều 131, Điều 166, Điều 500, Điều
501, Điều 502 của Bộ luật dân sự năm 2015). Các Điều 105, Điều 106 Luật đất
đai năm 2003 (tương ứng các Điều 166, 167, 188 Luật đất đai năm 2013). Các
Điều 158. , Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.
1.1. Xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa hộ ông Nguyễn
Cao T1 với hộ ông Nguyễn Hữu Đ lập ngày 17/5/2007 đối với thửa 1028, tờ bản
đồ số 3 (bản đồ 299) và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hộ
ông Nguyễn Hữu Đ với hộ ông Phan Thanh H2 lập ngày 22/3/2012 đối với thửa
1480, tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ độ) vô hiệu một phần đối với diện tích
600m2.
1.2. Buộc ông Phan Thanh H2, bà Huỳnh Thị Cẩm H5 trả lại cho bà
Nguyễn Thị H phần diện tích đất 357,1m2, thuộc một phần thửa 1480, tờ bản đồ
số 4 (bản đồ lưới toạ độ) trong phạm vi các mốc MA-MD-ME-MF-M1-M2-M3-
MC-M4-M5-MA, đối chiếu sang bản đồ 299 thuộc một phần thửa 1785, tờ bản
đồ số 3, mục đích sử dụng đất Thổ, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng
Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp).
1.3. Đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đất đai thu hồi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 16/4/2012
cho hộ ông Phan Thanh H2 đối với diện tích còn lại 357,1m2, thuộc một phần
-- 9 of 15 --
10
thửa đất 1480, tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ độ), tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp).
1.4. Đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về đất đai thu hồi Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 07/6/2005
cho hộ bà Nguyễn Thị H đối với diện tích 600m2, mục đích sử dụng đất Thổ,
thửa 1785, tờ bản đồ số 3 (bản đồ 299), tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng
Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp) để cấp lại cho cá nhân bà Nguyễn Thị
H diện tích 357,1m2, thuộc một phần thửa 1480, tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ
độ) trong phạm vi các mốc MA-MD-ME-MF-M1-M2-M3-MC-M4-M5-MA, đối
chiếu sang bản đồ 299 thuộc một phần thửa 1785, tờ bản đồ số 3, mục đích sử
dụng đất Thổ, đất tọa lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M,
tỉnh Đồng Tháp).
1.5. Bà Nguyễn Thị H được quyền nhận bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và
các quyền lợi chính sách khác theo quy định pháp luật đối với phần diện tích đất
đã bị thu hồi là 243m2, mục đích sử dụng đất Thổ, trong tổng diện tích đất
320,7m2 thuộc một phần thửa 1480, tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ độ), trong
phạm vi các mốc MA-M6-M7-ME-MD-MB-MA, đối chiếu sang bản đồ 299
thuộc một phần thửa 1785, tờ bản đồ số 3, loại đất Thổ, đất tọa lạc tại xã A,
huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường M, tỉnh Đồng Tháp) được xác định đã
bị thu hồi theo Quyết định số 649/QĐ-UBND ngày 13/02/2025 của Ủy ban nhân
dân huyện C để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường C - C giai
đoạn 1. Đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thu hồi, bồi thường trong
lĩnh vực đất đai thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quyền lợi
chính sách khác theo quy định pháp luật cho bà Nguyễn Thị H theo bản án đã
tuyên.
1.6. Hộ ông Phan Thanh H2 được quyền nhận bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư và các quyền lợi chính sách khác theo quy định pháp luật đối với phần diện
tích đất đã bị thu hồi là 77,7m2, mục đích sử dụng đất CLN, trong tổng diện tích
đất 320,7m2 thuộc một phần thửa 1480, tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ độ),
trong phạm vi các mốc MA-M6-M7-ME-MD-MB-MA được xác định đã bị thu
hồi theo Quyết định số 649/QĐ-UBND ngày 13/02/2025 của Ủy ban nhân dân
huyện C để thực hiện dự án Đầu tư xây dựng công trình đường C - C giai đoạn
1. Đề nghị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền về thu hồi, bồi thường trong lĩnh
vực đất đai thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và các quyền lợi chính
sách khác theo quy định pháp luật cho hộ ông Phan Thanh H2 theo bản án đã
tuyên.
Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm đị nh tại chỗ ngày 04/4/2023, 27/5/2025
của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh (nay Toà án nhân dân khu vực 9 – Đồng
Tháp) và sơ đồ đo đạc ngày 04/4/2023, 27/5/2025 của Chi nhánh văn phòng
đăng ký đất đai huyện C (nay là Chi nhánh văn phòng Đ2 - Đồng Tháp).
-- 10 of 15 --
11
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ,
quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định
pháp luật.
Ngày 21/8/2025, bị đơn Phan Thanh H2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST, ngày 19 tháng 8 năm 2025 và đề nghị Tòa án
cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-
ST, ngày 19 tháng 8 năm 2025, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm;Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo
pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước
thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Về nội dung kháng cáo: Quá trình xét xử phúc thẩm có phát sinh
tình tiết mới là Quyết định số 02 của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân phường M, tỉnh
Đồng Tháp về việc thu hồi 188,4m2 đất của hộ ông Phan Thanh H2. Tòa án sơ
thẩm chưa làm rõ quá trình sử dụng phần đất tranh chấp là do bà H hay ông H2
sử dụng .Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] về tố tụng : Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ “V/v Tranh chấp quyền
sử dụng đất, hợp đồng tặng cho, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh
chấp tiền thu hồi, bồi thường đất” là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn
kháng cáo bản án trong thời hạn luật định và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
đầy đủ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[1.1] Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm
:Chủ tịch ủy ban nhân dân phường M, ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Thị bạch T2,
Nguyễn Minh H4, Nguyễn Minh T3, Nguyễn Minh T4 và Huỳnh Thị C hằng có
đơn xin xét xử vắng mặt . Ông Nguyễn Văn H3, Nguyễn Cao T1 và Trung tâm
phát triển Quỹ đất thuộc Sở nông nghiệp & Môi trường tỉnh Đ vắng mặt nhiều
lần không rõ lý do . Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt
các đương sự này theo qui định tại khoản 2 , khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố
tụng dân sự.
-- 11 of 15 --
12
[2] Về nội dung : Bà H có nhận chuyển nhượng từ hộ của ông Nguyễn
Văn H3 diện tích 600m2 đất thuộc một phần thửa đất số 1785/1028, tờ bản đồ số
3, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Thửa 1785/1028, tờ bản đồ
số 3 được tách ra từ thửa 1028, tờ bản đồ số 3, toạ lạc tại xã A, huyện C, tỉnh
Đồng Tháp. Ngày 07/6/2005, bà H được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: H00007, thửa đất số: 1785, tờ bản đồ số 3, diện tích
600m2, mục đích sử dụng LNK (gọi tắt là thửa 1785). Bà H đã chuyển mục đích
thành đất thổ theo Quyết định số 119/QĐ-UB ngày 23/11/2005 của Ủy ban nhân
dân huyện C (UBND huyện C). Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 1480,
tờ bản đồ số 4 (bản đồ lưới toạ độ), có nguồn gốc là thửa 1028, tờ bản đồ số 3
(bản đồ 299), đất của ông Nguyễn Văn H3. Ngày 22/3/2012, ông Phan Thanh
H2 nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Hữu Đ, khi chuyển nhượng có làm
hợp đồng chuyển nhượng, được công chứng, chứng thực. Hộ ông H2 đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2.903m2 thuộc thửa số 1480, tờ
bản đồ số 4, đất toạ lạc tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Hộ ông H2 gồm:
Ông H2, bà Huỳnh Thị Cẩm H5, cháu Phan Thị Thu H6, Phan Thị Thanh H7 và
Phan Gia P, không còn ai khác. Bị đơn xác định thửa 1480 là tài sản chung của
vợ chồng ông H2 và bà Cẩm H5, không phải tài sản của hộ ông H2. Sau khi Tòa
án sơ thẩm xét xử , bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
[3] Tài liệu thu thập có trong hồ sơ thể hiện :
[3.1] Về nguồn gốc đất: nguồn gốc phần đất bà H5 và ông H2 đang tranh
chấp đều là của ông Nguyễn Văn H3 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/11/2004, thửa đất số 1028, tờ bản đồ số
3 diện tích 2.903m2 . Ngày 09/11/2004 ông H3 chuyển nhượng cho bà Nguyễn
Thị H ( nguyên đơn) diện tích 600m2 ( bút lục 87) ; Phần diện tích còn lại
2.303m2 ông H3 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Cao T1 ( bút lục 96);
[3.2] Quá trình sử dụng và biến động đất của bà H: Bà H được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/6/2005, thửa đất số 1785, tờ bản đồ số
3,diện tích 600m2 . Ngày 23/11/2005 bà H chuyển mục đích sử dụng sang đất
thổ đối với thửa đất 1785 (Bút lục 144). Năm 2017 bà H thế chấp thửa đất này
cho ngân hàng để vay tiền.Năm 2020 bà H xóa thế chấp để chuyển nhượng cho
người khác thì phát sinh tranh chấp do ông H2 đang sử dụng phần đất này.
[3.3]Quá trình sử dụng và biến động đất của ông H2:Ngày
18/03/2005,Ông Nguyễn Cao T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
tại thửa đất số 1028, tờ bản đồ số 3 , diện tích 2.303m2. Ngày 17/5/2007 ông T1
tặng cho toàn bộ thửa đất này cho ông Nguyễn Hữu Đ. Ngày 18/6/2007 ông
Nguyễn Hữu Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 1480, tờ
bản đồ số 3 , diện tích 2.903m2 (bút lục 86). Ngày 09/4/2012 ông Hữu Đ chuyển
nhượng cho ông Phan Thanh H2 ( bị đơn ) toàn bộ thửa đất này.
[3.4]Quá trình sử dụng và thu hồi đất : Tòa án sơ thẩm đã thu thập chứng
cứ đầy đủ thể hiện , phần đất tranh chấp đo đạc thực tế có diện tích 677,7m2 .
-- 12 of 15 --
13
Trong đó, đã thu hồi 320,7m2 (gồm 243m2 +77,7m2 ), phần 77,7m2 các bên đã
xác định thuộc quyền sử dụng của bị đơn và bị đơn được quyền nhận tiền bồi
thường ; Phần còn lại chưa thu hồi là 357,1m2 = 2,9m2 + 194,3m2 +159,9m2 ,
các bên tranh chấp phần diện tích 357,1m2 và tranh chấp số tiền bồi thường
(hiện do Trung tâm phát triển quỹ đất đang tạm giữ)do thu hồi 243m2 đất .
[4] Quá trình xét xử phúc thẩm, ông H2 có cung cấp quyết định số
02/QĐ-UBND ngày 28/8/2025 của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân phường M. Điều
1 của quyết định nêu trên có nội dung “..Thu hồi diện tích 188,4m2 đất trồng cây
lâu năm của Hộ ông Phan Thanh H2, thuộc một phần thửa đất số 1480, tờ bản
đồ số 4, tại phường M ( xã A cũ), tỉnh Đồng Tháp..” . Tòa án cấp phúc thẩm dã
dừng phiên tòa phúc thẩm để thu thập là rõ nội dung quyết định số 02/QĐ-
UBND ngày 28/8/2025 của Chủ Tịch Ủy ban nhân dân phường M thu hồi
188,4m2 đất có nằm trong tổng diện tích đất bà H và ông H2 đang tranh chấp tại
phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ theo văn số 418/KT,HT&ĐT ngày 02/4/2026 đã trả
lời như sau “... Quyết định số 02/QĐ -UBND ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Ủy
ban nhân dân Phường M , tỉnh Đồng Tháp thu hồi diện tích 188,4m2 nêu trên là
một phần của tổng diện tích 677,7m2 (trong thời gian tòa án đang giải quyết
tranh chấp) thì Ủy ban nhân dân Phường M không thu hồi quyết định nêu
trên..”. Do đó, đây là tình tiết mới phát sinh, để giải quyết toàn diện vụ án phải
xem xét tính hợp pháp của quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm
2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường M, tỉnh Đồng Tháp. Để đảm bảo 02
cấp xét xử thì cần hủy bản án sơ thẩm do phát sinh tình tiết mới tại phiên tòa
phúc thẩm. Cụ thể, trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì Chủ tịch Ủy
ban nhân dân phường M ban hành quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8
năm 2025 thu hồi 188,4m2 nằm trong tổng diện tích 677,7m2 đất các bên đương
sự đang tranh chấp. Do hủy án sơ thẩm nên chưa xét đơn kháng cáo của ông
Phan Thanh H2 .
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc hủy bản án sơ
thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử , được chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm : Do hủy án sơ thẩm , hoàn lại tạm ứng án
phúc thẩm cho ông H2 .
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 , khoản 3 Điều 296, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ
luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu,nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Ủ
Thường Vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH
1- Hủy toàn bộ án án Dân sự sơ thẩm số 46/2025/DS-ST ngày 19 tháng 8
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 - Đồng Tháp đã xét xử vụ án tranh
-- 13 of 15 --
14
chấp “quyền sử dụng đất”.giữa nguyên đơn là Nguyễn Thị H và bị đơn là Phan
Thanh H2.
2.Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 9-Đồng Tháp thụ lý giải quyết
theo qui định của pháp luật.
3-Về án phí phúc thẩm:
-H8 lại ông Phan Thanh H2 số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc
thẩm theo biên lai thu số 0002017 ngày 29/8/2025 của thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực 9, tỉnh Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
-- 14 of 15 --
15
- Lưu hồ sơ vụ án.
Trần Văn Đạt
-- 15 of 15 --