CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcDo Bản án dân sự sơ thẩm số 231/2025/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025
1. Anh Trần Văn Hoàng T1, sinh năm 1986;
2. Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1982;
3. Anh Trần Văn Hoàng D1, sinh năm 1991;
2
4. Chị Trần Ngọc Bảo T2, sinh năm 2016;
Đại diện theo pháp luật của cháu T2: Anh Trần Văn Hoàng D1, sinh năm
1991 (cha ruột);
Cùng địa chỉ: ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
5. Văn phòng C;
Địa chỉ: N, khu phố C, xã V, tỉnh Đồng Tháp;
6. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1977;
Địa chỉ: ấp T, xã V, tỉnh Đồng Tháp.
Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thị L.
(Ông Q, bà L có mặt; các đương sự còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Hồng T có người đại diện theo ủy
quyền anh Nguyễn Xuân Q trình bày:
Khoảng tháng 1/2021 ông Nguyễn Hồng T và bà Nguyễn Thị L có thỏa
thuận chuyển nhượng thửa đất số 306, tờ bản đồ số 17, diện tích 1045,4m2 tại ấp
L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp L, xã T, tỉnh Đồng Tháp) và tài sản
trên đất nên hai bên có lập hợp đồng cọc vào ngày 04/01/2021. Đến ngày
06/01/2021 hai bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại văn
phòng C, số công chứng 000057, quyển số 01/TP/CC-SCC/HĐGD, giá chuyển
nhượng ghi trong hợp đồng là 100.000.000 đồng nhằm giảm số thuế phải nộp.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T đã làm thủ tục và
được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong hồ sơ khởi kiện trước đây, ông T chỉ tìm ra và cung cấp được 02
biên nhận ngày 04/01/2021 số tiền 100.000.000 đồng và biên nhận ngày
06/01/2021 số tiền 400.000.000 đồng. Do quá trình chuyển nhượng đã lâu và có
nhiều giao dịch khác nên ông T không nhớ rõ giá trị chuyển nhượng thực tế với
bà L, chỉ căn cứ vào 02 biên nhận trên nên trong đơn khởi kiện ghi giá trị
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.