CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcThành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 3815/2024/GUQ-PC ngày
Điều 20. của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của
Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau: + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 06/10/2015 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 15.636.218 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Sau đó, vào tháng 08/2016 ông G thanh toán thêm vào thẻ tín dụng số tiền 5.000.000 đồng. Nên nợ gốc của ông G hiện còn lại là 10.636.218 đồng. (15.636.218 đồng – 5.000.000 đồng = 10.636.218 đồng). Do ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông G phải trả số tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 55.603.220 đồng. Cụ thể là: 3 Loại thẻ: Visa; Số thẻ: 472074 – 2130; Nợ gốc: 10.636.218 đồng; nợ lãi: 44.967.002; lãi suất: 3.225% (2.15% x150%) đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông G, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông G vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau đây:
1. Buộc ông Huỳnh Văn G phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 55.603.220 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba ngàn, hai trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc: 10.636.218 đồng; Lãi quá hạn: 44.967.002 đồng.
2. Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ 05/3/2026 cho đến
khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng. Bị đơn ông Huỳnh Văn G đã được Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Huỳnh Văn G vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử mà không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa:
1. Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng thương mại cổ phần S ông
Trần Gia T có đơn xin vắng mặt và có bản tự khai trình bày yêu cầu như sau: - Buộc ông Huỳnh Văn G phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 55.603.220 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba ngàn, hai trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc: 10.636.218 đồng; Lãi quá hạn : 44.967.002 đồng. - Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ 05/3/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng. Bị đơn ông Huỳnh Văn G vắng mặt không lý do.
2. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 –
Thành phố Hồ Chí Minh như sau: - Về tuân theo tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. 4 - Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện ông Huỳnh Văn G yêu cầu ông G thanh toán khoản tiền vay nợ theo Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/3/2015 với mục đích tiêu dùng sinh hoạt phục vụ đời sống. Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 1143/TAKV10 ngày 18/8/2025 của Công an xã T, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung: “Đương sự Huỳnh Văn G, Sn: 1982, không đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú và không thực tế cư trú tại B, xã T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại địa chỉ B, xã T không có ai là thân nhân của ông Huỳnh Văn G” và Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 2403/TAKV10 ngày 12/11/2025 của Công an xã Quới Thiện, tỉnh Vĩnh Long có nội dung: “Công dân Huỳnh Văn G, sn: 18/4/1982, có đăng ký thường trú tại ấp C, Q, Vĩnh Long. Qua xác minh, công dân không có thực tế cư trú tại địa phương, không có thông tin nơi tạm trú, chỉ nắm được đang làm việc sinh sống tại Tp. Hồ Chí Minh. Ông Huỳnh Văn G không có trình báo cơ quan nơi sinh sống cụ thể, cũng không có đăng ký tạm trú tại địa phương khác để cập nhật trên cơ sở dữ liệu. Qua xác minh, công dân đã bán hết nhà, đất tại địa phương, cả gia đình không còn sinh sống tại địa phương”. Tuy nhiên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/3/2015 thể hiện địa chỉ của ông Huỳnh Văn G là: B, xã P, huyện B (nay là xã T), Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1
Điều 35. và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; căn cứ
khoản 3 Điều 5; điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có người đại diện theo ủy quyền ông Trần Gia T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Huỳnh Văn G mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các Giấy triệu tập đương sự nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh 5 theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu chứng cứ đã thu thập được để giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. [1] Về nội dung vụ án: Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/3/2015, bị đơn được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng là: Loại thẻ: Visa; Số thẻ: 472074 – 2130; Hạn mức: 15.000.000 đồng; Ngày ký hợp đồng: 18/03/2015; Lãi suất áp dụng: 2.15%/tháng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.700.000 đồng thì ngưng. Do ông G vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 06/10/2015 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 15.636.218 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Đến tháng 08/2016 ông G thanh toán thêm vào thẻ tín dụng số tiền 5.000.000 đồng. Nên nợ gốc của ông G hiện còn lại là 10.636.218 đồng. Vì vậy, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông Huỳnh Văn G trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 55.603.220 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba ngàn, hai trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc: 10.636.218 đồng; Lãi quá hạn: 44.967.002 đồng. Ngoài ra yêu cầu bị đơn có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/3/2026 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Hội đồng xét xử xét thấy như sau: * Đối với yêu cầu thanh toán tiền gốc của Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng): Căn cứ vào Bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng cho thấy kể từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 05/10/2015 thì ông G đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 2.700.000 đồng thì ngưng. Căn cứ Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S có hiệu lực từ ngày 15/8/2014 quy định: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán. Nếu chủ thẻ có nhiều hơn một tài khoản với Đơn vị phát hành thẻ, việc vi phạm ở một tài khoản sẽ tự động được xem như là vi phạm ở tất cả tài khoản khác. Dù bất cứ trường hợp nào, Đơn vị phát hành thẻ có quyền chấm dứt tất cả các tài khoản của chủ thẻ tại Đơn vị phát hành thẻ. Chủ thẻ ủy quyền và cho phép Đơn vị phát hành thẻ có quyền trích tiền từ các loại tài khoản tiền gửi/tài khoản tiết kiệm để thanh toán cho bất kỳ hoặc tất cả các dư nợ mà Chủ thẻ chính có tại S mà không cần có sự xác nhận hay đồng ý trước của chủ thẻ. 6 Khi sự kiện vi phạm xảy ra. Chủ thẻ hiểu và Đồng ý rằng Đơn vị phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hoạt động sau: Chấm dứt quyền sử dụng Thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ.” Vì vậy, ngày 06/10/2015 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn số tiền là 15.636.218 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Đến ngày 05/08/2016 ông G thanh toán thêm vào thẻ tín dụng số tiền 5.000.000 đồng. Nên nợ gốc của ông G hiện còn lại là 10.636.218 đồng là có cơ sở phù hợp với quy định của ngân hàng Căn cứ vào khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “…Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật…”. Kể từ ngày 05/8/2016 đến nay, ông G không thanh toán thêm khoản tiền gốc nào cho ngân hàng nữa. Mặc dù đã được ngân hàng nhiều lần nhắc nhở, đôn đốc nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ. Vậy nên, ông G đã vi phạm thỏa thuận hợp đồng tín dụng, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông G phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc còn nợ là 10.636.218 đồng là có cơ sở chấp nhận. * Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn của Ngân hàng TMCP S: Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “…Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…” Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/3/2015, các bên không có thỏa thuận lãi quá hạn trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, Điều 23 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng TMCP S quy định (các bên đã thỏa thuận bản điều khoản và điều kiện này là một phần của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/3/2015) có quy định như sau: "Áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại) phù hợp với điều 22 đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đơn vị phát hành thẻ". Căn cứ vào Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng Quốc tế S về lãi suất Thẻ tín dụng quốc tế là 2.15%/tháng. Đối chiếu quy định này của S thì từ ngày 06/10/2015 đến 03/4/2026 số tiền quá hạn là 44.967.002 đồng (Bốn mươi bốn triệu, chín trăm sáu mươi bảy nghìn, không trăm linh hai) đồng là có cơ sở chấp nhận. 7 [4] Từ những phân tích và nhận định trên, đồng thời xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. [5] Về án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ nêu trên, QUYẾT ĐỊNH: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
2
Địa chỉ: B, xã T (địa chỉ cũ: B, xã P, huyện B), Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 05 năm 2025 và các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn có ông Trần Gia T trình bày như sau:
Ngày 18/03/2015, ông G có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân
hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng
kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín
dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức
tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:
Loại thẻ: Visa; Số thẻ: 472074 – 2130; Hạn mức: 15.000.000 đồng; Ngày ký
hợp đồng: 18/03/2015; Lãi suất áp dụng: 2.15%/tháng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông G đã thực hiện các giao dịch với tổng
số tiền là 14.437.362 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông G đã thanh
toán cho Ngân hàng số tiền 7.700.000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong
bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo
Điều 91. , khoản 2 Điều 92, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và
khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Căn cứ Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Huỳnh Văn G. Buộc ông Huỳnh Văn G có trách nhiệm trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2026 là 55.603.220 đồng (Năm mươi lăm triệu, sáu trăm linh ba ngàn, hai trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc: 10.636.218 đồng; Lãi quá hạn: 44.967.002 đồng. Kể từ ngày 05/3/2026 ông Huỳnh Văn G còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc quá hạn chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc trên. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn thì lãi suất mà ông G phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn theo bản án của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn Các đương sự có quyền thỏa thuận về địa điểm giao nhận tiền và thời điểm giao nhận tiền, trường hợp không thỏa thuận được thì thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 8 2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: - Ông Huỳnh Văn G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.780.161 (Hai triệu, bảy trăm tám mươi nghìn, một trăm sáu mươi mốt) đồng. - Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.291.462 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/24P/0052633 ngày 28/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. 3/ Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. 4/ Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nhận: - Các đương sự (1); - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (2); - Thi hành án dân sự Tp. HCM (1); - Lưu VP, hồ sơ vụ án (5). TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Huyền
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.