quan tiến hành tố tụng chưa chứng minh được vai trò tổ chức của bị cáo như: bị
cáo là người khởi xướng, điều hành, chuẩn bị địa điểm, rủ rê các bị cáo, đối tượng
nghiện sử dụng trái phép chất ma túy. Việc đánh giá chứng cứ còn phiến diện. Bản
án sơ thẩm áp dụng khung hình phạ t chưa đúng, hành vi của bị cáo rất mờ nhạ t, bị
cáo S không phải là người tổ chức chủ trì theo lời khai của Nguyễn Hữu H3 tạ i bút
lục 39-41, Trương Ngọc L2 ở bút lục 46-49. Như vậy, bị cáo S không phải là người
tổ chức, không chỉ đạ o, không chuẩn bị ma túy, việc S chỉ là sử dụng ma túy cùng
những người này.
Thứ hai, trong cáo trạng có sự suy diễn rằng bị cáo S thuê phòng trọ cho bị
cáo H2, tuy nhiên, S có chỗ ở cùng vợ con, không có mâu thuẫn với vợ con, S chỉ
thuê phòng trọ cho H2 ở, đây không phải là hình thức giúp sức cho hành vi phạm
tội mà chỉ là giúp đỡ bạn bè. Cơ quan điều tra không chứng minh được S là người
thường xuyên ngủ lại và sử dụng phòng trọ chung với H2, S chỉ khai là sử dụng
ma túy chung với H2, V, L2 và H3. Đây là hành vi cùng sử dụng ma túy chứ không
thể vì S thuê phòng trọ cho H2 mà lại buộc vào tội S tội “Tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy”. Mặt khác, không có chứng cứ chứng minh bị cáo S có số điện thoại
của H3 và gọi cho H3 đến sử dụng ma túy. Hành vi của S chỉ thỏa mãn tội “Sử
dụng trái phép chất ma túy”. Thời điểm bị bắt, S đi làm, không có mặt tại thời điểm
đó nên không thể cho rằng S cùng tổ chức sử dụng trái chép chất ma túy được. Bị
-- 4 of 7 --
5
cáo S thuê giùm phòng trọ cho H2 có dấu hiệu tội “Chứa chấp sử dụng trái phép
chất ma túy” hơn là tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Trong vụ án, bị cáo không giữ vai trò chính, không mua ma túy, không chuẩn
bị ma túy, địa điểm, không chỉ đạo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07
năm tù trong khi H2 là người có vai trò chính thì bị xử phạt 08 năm 0 6 tháng thì
chưa thể hiện được sự phân hóa vai trò đồng phạm.
Gia đình bị cáo là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Mặt khác, bị cáo có vai trò mờ nhạt, bị cáo có nhân
thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu, có xu hướng cải tạo tốt,
là lao động chính trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54
của Bộ luật Hình sự, chuyển khung hình phạt cho bị cáo xuống khoản 1 Điều 255
của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.
* Bị cáo đồng ý với bài bào chữa và không tranh luận bổ sung.
* Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Trong bản luận cứ của người bào chữa có
nhiều mâu thuẫn, người bào chữa cho rằng hành vi của bị cáo không cấu thành tội
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mà có dấu hiệu tội “Chứa chấp sử dụng
trái phép chất ma túy” nhưng lại xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, bị cáo xác
định kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nên đại diện Viện kiể m sát vẫn giữ nguyên
quan điểm.
* Người bào chữa cho bị cáo đối đáp: Người bào chữa cho rằng hành vi của
bị cáo có màu sắc tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng trong hồ
sơ không có làm rõ, không phủ nhận việc bị cáo thuê nhà cho H2 nhưng không có
chứng cứ chứng minh nên người bào chữa đưa ra các quan điểm để giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem
xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ
điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội
dung bản án sơ thẩm, có đủ cơ sở xác định: trong ngày 02 và ngày 03 tháng 10 năm
2024, Nguyễn Công H2 đã có hành vi cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma
túy và sử dụng địa điểm là phòng trọ số a, nhà trọ không số, tổ x, khu phố C,
phường D, Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Tuấn S và Nguyễn Công H2 để cho
Trương Ngọc L2, Phan Quang V, Nguyễn Hữu H3, Trần Tuấn S và H2 cùng sử
dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Nguyễn Công H2 còn có hành vi tàng trữ ma
túy loại Methamphetamine khối lượng 7,4203 gam tại phòng trọ mục đích để sử
dụng.
-- 5 of 7 --
6
Đối với Trần Tuấn S trong ngày 02 tháng 10 năm 2024, Trần Tuấn S đã có
hành vi sử dụng địa điểm là phòng trọ số a, nhà trọ không số, tổ x, khu phố C,
phường D, Thành phố Hồ Chí Minh của Trần Tuấn S và Nguyễn Công H2 thuê ở
để cho Trương Ngọc L2, Nguyễn Công H2 và Trần Tuấn S cùng sử dụng trái phép
chất ma túy. Hành vi mà bị cáo Nguyễn Công H2 thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành
tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
theo điểm g khoản 2 Điều 249 và điểm a, b khoản 2 Điều 255; Hành vi mà bị cáo
Trần Tuấn S thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Công H2, Trần Tuân S về tội
danh, điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn S, Hội đồng
xét xử xét thấy: tại phiên tòa, bị cáo Trần Tuấn S đã thừa nhận hành vi phạm tội
của mình. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ phạm tội và xem xét
đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo kháng cáo
nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Hiện nay,
tình hình tội phạm ma túy diễn ra hết sức phức tạp, ma túy là hiểm họa lớn cho
toàn xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế và an ninh trật tự,
là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy
mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp, không nặng, việc
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sẽ không đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và
phòng ngừa, giáo dục chung trong xã hội. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã
hội một thời gian để bị cáo có thời gian cai nghiện, đồng thời có thể sửa chữa bản
thân và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm . Do đó, Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
50/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 16 -
Thành phố Hồ Chí Minh.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội
đồng xét xử không nhận kháng cáo của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Ý kiến của người bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là
không có cơ sở nên không được chấp nhận.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp
nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
và Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-- 6 of 7 --
7
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015.
1.1 Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn S. Giữ nguyên Bản
án hình sự sơ thẩm số 50/2026/HS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
1.2 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 38; Điều 58; Điều 106 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017).
1.3 Xử phạt bị cáo Trần Tuấn S 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2025.
2. Về án phí phúc thẩm: bị cáo Trần Tuấn S phải nộp 200.000 đồng (hai trăm
nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Phòng Hồ sơ - Công an TP.HCM;
- Tòa án nhân dân thành khu vực 16 - TP.HCM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - TP.HCM;
- Phân trại tạm giam Lái Thiêu (cơ sở Dĩ An);
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 - TP.HCM;
- Lưu hồ sơ vụ án, VP, 20. (76)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thanh Tùng
-- 7 of 7 --