và năm 2025; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58 của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014; Điều 27
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị G.
Xử cho chị Hoàng Thị G ly hôn anh Bùi Văn T.
Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị G đượ c trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giáo dục và nuôi dưỡ ng con chung là Bùi Quốc K, sinh ngày 02/9/2024.
Ghi nhận chị Hoàng Thị G chưa yêu cầu anh Bùi Văn T việc cấp dưỡ ng nuôi
con chung nên không đề cập giải quyết.
-- 2 of 6 --
3
Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị Hoàng Thị G và anh
Bùi Văn T kết hôn ngày 30/01/2023 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân
xã L, huyện L, tỉnh Yên Bái, nay là xã L, tỉnh Lào Cai. Chị Hoàng Thị G và anh
Bùi Văn T có một con chung là Bùi Quốc K, sinh ngày 02/9/2024.
Các tình tiết mà các bên đã thống nhất: Không.
Các tình tiết các bên chưa thống nhất:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị G đề nghị được ly hôn anh Bùi Văn
T.
Về con chung: Chị Hoàng Thị G đề nghị đượ c trực tiếp trông nom, chăm
sóc, giáo dục và nuôi dưỡ ng con chung Bùi Quốc K, sinh ngày 02/9/2024. Chị
Hoàng Thị G chưa yêu cầu anh Bùi Văn T việc cấp dưỡ ng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Chị Hoàng Thị G có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án
nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ giải quyết việc ly hôn với anh Bùi Văn T, sinh
năm 1993; địa chỉ: Xóm H, xã V, tỉnh Phú Thọ. Theo quy định tại khoản 1 Điều
28; điểm a khoản 1 các Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tòa án đã triệu tập đương
sự nhiều lần, đã thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận
công khai chứng cứ và hòa giải đến các đương sự hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt
không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Do vậy, bị đơn
không có bản tự khai, biên bản lấy lời khai. Tòa án đã lập biên bản về phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ có nguyên đơn, lập biên
bản không tiến hành hoà giải đượ c và nguyên đơn đề nghị Tòa án không tiến
hành hòa giải vụ án nữa và đưa vụ án ra xét xử.
Toà án đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập
đương sự tham gia phiên toà, Quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến các đương
sự nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025, Hội đồng xét xử
tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
-- 3 of 6 --
4
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị G và anh Bùi Văn T kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
L, huyện L, tỉnh Yên Bái, nay là xã L, tỉnh Lào Cai ngày 30/01/2023 là hôn
nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị G đối với anh Bùi Văn T, Hội đồng
xét xử thấy rằng: Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của chị G và anh T cho
thấy hoàn toàn phù hợp với lời khai của chị G. Sau khi kết hôn, anh chị chung
sống với nhau tạ i nhà chồ ng ở xóm H, xã V, tỉnh Phú Thọ. Tháng 02/2025, khi
con chung đượ c 05 tháng tuổ i thì mẹ con chị G về ngoạ i ở Lào Cai sống cho đến
nay và không quay lạ i nhà anh T nữa. Trong khoảng thờ i gian này, anh T lên
thăm vợ con đượ c một lần. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Bùi Văn T
không liên lạc, lên thăm hay hỏi thăm gì đối với v ợ con. Xét thấy, vợ chồng
sống ly thân, vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, mục đích hôn nhân không
đạt được. Do vậy, yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Thị G là có căn cứ chấp nhận
theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014,
phù hợp với ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2.2] Về con chung: Chị Hoàng Thị G và anh Bùi Văn T có một con chung
là Bùi Quốc K, sinh ngày 02/9/2024. Xét đề nghị đượ c nuôi con của chị G, Hội
đồ ng xét xử thấy rằng: Việc giao con cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng sau
khi ly hôn phải đảm bảo các điều kiện tốt nhất về chăm sóc, giáo dục và tránh bị
sáo trộn về mặt tâm lý. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh T không có
mặt tại Tòa án nên không có căn cứ để xem xét nguyện vọng của anh T. Con
chung của chị G, anh T hiện còn nhỏ và đang sinh sống ổ n định với chị G tạ i xã
L, tỉnh Lào Cai. Từ ngày ch ị G sống trên nhà ngoạ i, anh T ít quan tâm đến con.
Đặc biệt, kể từ ngày chị G làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết thì anh T không
quan tâm và hỗ trợ kinh tế với chị G để nuôi con chung. Hiện nay, chị gấm buôn
bán ở chợ L , thu nhập bình quân từ 7 đến 8 triệu đồng/ tháng. Do vậy, đề nghị
của chị G cũng như ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giao cho chị G
được nuôi con chung sau khi ly hôn là có căn cứ chấp nhận. Ghi nh ận việc chị
Hoàng Thị G chưa yêu cầu anh Bùi Văn T việc cấp dưỡng nuôi con chung nên
không đề cập giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị G và anh Bùi Văn T không có tài
sản chung nên không đề cập giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị Hoàng Thị G và anh Bùi Văn T không có nợ chung
nên không đề cập giải quyết.
[2.5] Về án phí: Chị Hoàng Thị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy
định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, được sửa đổi
bổ sung năm 2017 và năm 2025; điểm a khoản 5 Điều 27
Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên,
-- 4 of 6 --
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1