CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 122/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2026,
03/6/2023 hiện nay đang sống với bà T.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ
chồng thường xuyên cự cãi nhau, ông Đ không chăm lo cho gia đình, trước khi
Tòa án hòa giải ông Đ có hành vi đe dọa tính mạng của bà T và con. Hiện nay vợ
chồng không còn sống chung từ ngày 24/11/2025 đến nay.
Bà Nguyễn Phượng T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Thái Thành Đ.
Về con chung: Bà T và ông Đ xác nhận vợ chồng có một người con chung tên
Thái Nguyễn Quang Đ1, sinh ngày 03/6/2023. Bà T yêu cầu được nuôi con, không
yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, ông Thái Thành Đ trình bày:
Ông Thái Thành Đ xác nhận lời trình bày của bà T về mối quan hệ hôn nhân,
con chung, về tài sản chung, về nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là
đúng.
Ông Đ thừa nhận quá trình chung sống có những mâu thuẫn là do lỗi của ông,
sau khi vợ gửi đơn ly hôn, ông thường xuyên xin lỗi vợ để vợ chồng hàn gắn
nhưng vợ không đồng ý.
Ông Đ có Đơn giải quyết vắng mặt ngày 13/5/2026 đồng ý ly hôn theo yêu
cầu của bà T.
NHẬN ĐNNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thNm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Thái Thành Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ
khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Thái
Thành Đ.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thNm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định
quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung,
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.