CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcsố 29/2026/QĐST-DS ngày 24 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Ngày 09/5/2018, bà H nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà Nguyễn Thị
Kim L và ông Hồ Minh H2 thửa đất có diện tích 1.200 m2 thuộc thửa đất số 54, tờ
bản đồ số 02, tọa lạc tại thôn P, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số M 443172. Khi nhận chuyển nhượng 02 bên đã viết
giấy tay hợp đồng mua bán đất. Trong hợp đồng mua bán đất có cả chữ ký các con
của ông H2, bà L.
Số tiền chuyển nhượng là 320.000.000 đồng, được thanh toán thành 02 đợt;
đợt 1 thanh toán 200.000.000 đồng vào ngày 09/5/2018; đợt 2 thanh toán
120.000.000 đồng khi 02 bên làm thủ tục chuyển nhượng.
Sau khi ký hợp đồng mua bán đất, bà H đã thanh toán 200.000.000 đồng và
được vợ chồng ông H2, bà L xác nhận. Ngày 12/12/2018, bà H tiếp tục thanh toán
thêm 120.000.000 đồng. Tức bà H đã thanh toán đủ tiền mua đất cho vợ chồng ông
H2, bà L và vợ chồng bà L giao giấy chứng nhận QSDĐ cho bà H để thực hiện thủ
tục cấp đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ.
Diện tích thửa đất theo giấy chứng nhận QSDĐ là 912 m2, nhưng thực tế
diện tích thửa đất trên 1200 m2 nên khi mua bán 02 bên xác định mua bán diện tích
thực tế, chứ không xác định diện tích theo giấy chứng nhận QSDĐ.
Ngày 02/7/2019, thửa đất trên được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp đổi
thành thửa đất số 337, tờ bản đồ số 42, diện tích 1281 m2 theo giấy chứng nhận
QSDĐ số CO 674410 đứng tên hộ ông Hồ Minh H2. Sau đó bà H đã yêu cầu vợ
chồng ông H2, bà L thực hiện thủ tục chuyển nhượng để sang tên cho bà nhưng vợ
chồng ông H2 không đồng ý vì cho rằng, vợ chồng ông bà chỉ bán cho bà H 1200
m2, chứ không phải 1281 m2 theo giấy chứng nhận QSDĐ.
Chính vì thế, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch mua bán
đất giữa bà H với vợ chồng ông H2 đối với thửa đất số 54, tờ bản đồ số 02 theo
giấy chứng nhận QSDĐ số M 443172 theo hợp đồng mua bán đất ngày 09/5/2018;
nay là thửa đất số 337, tờ bản đồ số 42, diện tích 1281 m2 theo giấy chứng nhận
QSDĐ số CO 674410 cấp ngày 02/7/2019.
2. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2024, ngày 20/6/2024 và quá trình
tham gia tố tụng, bị đơn ông Hồ Minh H2 và bà Nguyễn Thị Kim L trình bày:
Ngày 09/5/2018, vợ chồng ông H2, bà L có ký giấy chuyển nhượng cho bà
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.