2025).
Xử phạt bị cáo Trần Minh T2 20 (hai mươi) năm tù. Th ời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 25/12/2024.
-- 5 of 8 --
6
4. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2 Điều 32; Điều 35; Khoản 6 Điều
251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
- Phạt bị cáo Trương Thái Á Tuyết số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi
triệu đồng).
Phạt bị cáo Trần Minh T2 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)”…
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, nghĩa vụ thi hành
án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 24/3/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng nhận được đơn kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Minh T2.
Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ
Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Trong vụ án này có 2 bị cáo, bị
cáo Trương Thái Ánh T1 có vai trò chính trong vụ án, có nhân thân xấu nhưng
Tòa án cấp sơ thẩm xử cả 2 bị cáo đều mức án 20 năm tù, là chưa đảm bảo việc
phân hóa vai trò, bị cáo T2 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, bị cáo T2
phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, hoặc thiệt hại không lớn, cấp sơ thẩm chưa
xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cụ thể là
giảm nhẹ 2 năm tù cho bị cáo T2.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Cấp sơ thẩm chưa phân hóa vai trò đối với
các bị cáo, bị cáo T1 là có vai trò chính trong vụ án có nhân thân xấu, bị cáo T2
với vai trò giúp sức, có nhân thân tốt nhưng Tòa sơ thẩm xử bị cáo T1 và T2 với
mức hình phạt bằng nhau là không công bằng nên kính mong Hội đồng xét xử
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Căn cứ các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Các bị cáo Trương
Thái Ánh T1 và Trần Minh T2 có quan hệ tình cảm với nhau. Thời gian từ ngày
18/12/2024, Trương Thái Ánh T1 đưa ma túy (loại MDMA, Methamphetamine,
Ketamine, N1) từ Thành phố Hồ Chí Minh đến địa điểm: Phòng 303, khách sạn
C, số E đường N, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng gặp và trao đổi, thống nhất
cùng Trần Minh T2 tìm người bán lại để kiếm lời. Theo đó, bị cáo T1 đã đưa
464,1747gam ma túy (gồm 462,6705gam MDMA; 0,2gam Methamphetamine;
1,3042gam N) cho T2 cất giấu ở phòng 303, khách sạn C; còn lại 65,0131gam
ma túy (gồm 64,1304gam Methamphetamine và Ketamine; 0,8827gam N) T1
mang về cất giấu trong phòng trọ thuê ở hẻm S đường Đ, phường X - Đ, tỉnh
Lâm Đồng để tìm người bán lại. Đến ngày 25/12/2024, T1 và T2 chưa bán được
ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang,
thu giữ toàn bộ số ma túy và vật chứng liên quan.
-- 6 of 8 --
7
Tổng khối lượng ma túy Trương Thái Ánh T1, Trần Minh T2 cùng chịu
trách nhiệm hình sự là 527,7299 gam (gồm 462,6705gam MDMA; 64,3304gam
Methamphetamine và Ketamine; 2,1869gam N - áp dụng cách tính tổng khối
lượng theo
Nghị định số 19/2018/NĐ -CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ).
Hành vi nêu trên của các bị cáo Trương Thái Ánh T1 và Trần Minh T2 bị
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại
điểm h khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017, 2025) là có căn cứ.
[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Thái Ánh T1 và Trần
Minh T2 là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn trong
quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.
Bị cáo Trương Thái Ánh T1 và Trần Minh T2 phạm tội với vai trò đồng phạm
nhưng tính chất đồng phạm giản đơn, cùng là người thực hành; Trương Thái
Ánh T1 là người rủ rê; nhân thân bị cáo Trần Minh T2 chưa có tiền án, tiền sự;
nhân thân bị cáo Trương Thái Ánh T1 đã bị xét xử về tội “Mua bán trái phép
chất ma túy” trong vụ án khác và bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc. Vì vậy, việc cần xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm, tương
xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, nhân thân của
mỗ i bị cáo và quy định của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn cần thiết.
Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị
cáo T2 là chưa phù hợp, chưa đánh giá đúng vai trò, nhân thân cũng như tính
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, chưa đảm bảo tính công bằng trong
quyết định hình phạt giữa 02 bị cáo này. Theo đó, trong vụ án này bị cáo T2 là
người được bị cáo T1 rủ rê, là người có nhân thân tốt, bản thân bị cáo T2 là đồng
phạm giúp sức. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên mức hình phạt của bị cáo T2
bằng với mức hình phạt của bị cáo T1 (cùng 20 năm tù) là chưa đánh giá đúng
vai trò của từng bị cáo, và không đảm bảo tính công bằng trong quyết định hình
phạt đối với bị cáo T2.
Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận yêu cầu
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Minh T2 như đề nghị của đại
diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm và luật sư bào chữa cho bị cáo.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, vì vậy bị cáo T2 không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-- 7 of 8 --
8
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần
Minh T2.
2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2026/HS-ST ngày
19/3/2026 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm h khoản 4 Điều 251; Điều 17; Điều 38; Điểm s khoản 1