Mục lục - 3 điều ▼
Điều 1. Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt: Nguyên đơn bà L có đơn xin xét xử
vắng mặt và bị đơn ông Q vắng mặt không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét
xử vắng mặt ông Q và bà L theo đú ng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn
vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được vụ án nên Tòa án đưa vụ án ra xét
xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị L và ông Võ Hùng Q có đăng ký
kết hôn ngày 25/5/2010, ông bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện
M, tỉnh Long An cũ (nay là phường K, tỉnh Tây Ninh) nên được xác định là quan
hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét thấy trong thời gian vợ chồng chung sống được một thời gian thì nay
giữa bà L và ông Q phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống.
Ông Q không có lời khai trong hồ sơ và vắng mặt không có lý do trong suốt quá
trình giải quyết vụ án nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng
thể hiện ông Q đã biết được nội dung yêu cầu khởi kiện của bà L nên được xác
định ông Q đã từ bỏ quyền chứng minh của mình về yêu cầu khởi kiện của bà L.
Việc ông Q vắng mặt và không có ý kiến thể hiện ông Q không có thiện chí hàn
gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào lời trình bày của bà L thì hai bên không
-- 2 of 16 --
3
quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hai bên không có tiếng nói chung. Điều này
thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 5,
Điều 92. Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, 57 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông
Q là đúng quy định của pháp luật.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 01 con chung
cháu Võ Quốc Thiên A, giới tính nam, sinh ngày 29/4/2011. Bà yêu cầu được
quyền trực tiếp nuôi cháu Võ Quốc Thiên A đến khi con chung đủ 18 tuổi hiện
nay cháu còn nhỏ và đang sống với bà L vẫn phát triển bình thường về mặt vật
chất, tinh thần. Do đó để ổn định về mặt tâm sinh lý nên cần tiếp tục giao cháu
Thiên A cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng
con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông Q xác định không có không
yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[2.5] Về án phí: Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung
vào công quỹ Nhà nước theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227,
Điều 228. , Điều 238 Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Áp dụng các Điều 19, 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị L đối với ông Võ
Hùng Q về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”.
Về hôn nhân: Bà Ngô Thị L được ly hôn với ông Võ Hùng Q.
Về con chung: Giao con chung cháu Võ Quốc Thiên A, giới tính nam,
sinh ngày 29/4/2011 cho bà Ngô Thị L được quyền trực tiếp trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Võ Hùng Q
không phải cấp dưỡng con chung do bà Ngô Thị L không yêu cầu.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn;
Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ,
quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của
cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng
nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83,
84, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Về án phí: Buộc bà Ngô Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng)
án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được
-- 3 of 16 --
4
khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí bà Ngô Thị L đã
nộp theo biên lai số 0016538 ngày 25 tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án dân sự
tỉnh Tây Ninh. Bà Ngô Thị L đã nộp đủ.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Thị L, ông Võ Hùng Q vắng mặt được
quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo
quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,
người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các