CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 132/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2026,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Mai Thị Cẩm T trình bày:
Bà Mai Thị Cẩm T và ông Ưng Ơ Líp kết hôn với nhau từ năm 2007, có đăng
ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 196, quyển số 1 ngày 08/7/2009 tại
UBND thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang (nay là UBND đặc khu P, tỉnh An
Giang).
Vợ chồng có một người con chung tên Ưng Bảo N, sinh ngày 08/8/2008 hiện
nay đang sống với bà T.
Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến
với nhau trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường hay cãi nhau và tình cảm vợ
chồng không còn hạnh phúc.
Bà Mai Thị Cẩm T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Ưng Ơn L.
Về con chung: Bà T xác nhận vợ chồng có một người con chung tên Ưng Bảo
N, sinh ngày 08/8/2008. Bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông L cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Cam kết vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, ông Ưng Ơn L trình bày:
Ông Ưng Ơn L xác nhận lời trình bày của bà T về mối quan hệ hôn nhân, con
chung, về tài sản chung, về nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là đúng.
Ông L thừa nhận quá trình chung sống có những mâu thuẫn là do lỗi của ông
hiểu nhầm bà có mối quan hệ tình cảm với người khác nên bà T giận ông, mâu
thuẫn trong tiền bạc, công việc của vợ chồng.
Ông L không đồng ý ly hôn với bà T, vì vẫn còn thương vợ, thương con,
không muốn lý hôn, ảnh hưởng đến cuộc sống của con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – An Giang phát biểu quan
điểm về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán đã xác định
đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng và xác minh, thu thập
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.