Mục lục - 3 điều ▼
Điều 9. của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; thẩm quyền đăng ký kết hôn
và nghi thức tổ chức đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại các Điều 12, 14
Luật Hôn nhân và gia đình – năm 2000. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và
anh L được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị H, đối chiếu với
tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo chị H
trình bày, sau khi kết hôn, đời sống hôn nhân giữa chị và anh L hạnh phúc bình
thường trong khoảng thời gian dài. Đến tháng 4/2025, vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn gay gắt. Nguyên nhân chính làm phát sinh mâu thuẫn là do anh L có lối
sống gia trưởng và bạo hành gia đình của anh L. Mặc dù nhiều lần chị khuyên
nhủ để anh L thay đổi lối sống, xây dựng đời sống hôn nhân tiến bộ, hạnh phúc,
nhưng anh L vẫn không thay đổi, thường xuyên chửi mắng, đánh đập chị. Không
chịu đựng được lối sống bạo hành gia đình, chị bỏ về nhà cha mẹ chị ở tạm; sau
đó đến Q tìm việc làm, thuê nhà trọ sống riêng và chủ động ly thân với anh L
cho đến nay. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân, giữa chị và anh L
sống bỏ mặc nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nên mâu thuẫn vợ
chồng kéo dài, mức độ mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy, chị khởi kiện
yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
[2.3] Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù đã được Toà án
gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần tống đạt giấy triệu tập và các văn
bản tố tụng khác, nhưng anh L cố ý lẩn tránh, không đến Toà án để thực hiện
quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Ngày 12/02/2026, Tòa án phối
hợp với đại diện chính quyền địa phương đến nơi cư trú của anh L để tiến hành
biện pháp thu thập chứng cứ lấy lời khai của bị đơn, nhưng anh L không có mặt
tại nơi cư trú. Làm việc với ông Nguyễn Văn N (cha ruột anh L) thì được biết,
trước ngày 28/9/2025 (âm lịch) anh L sống và làm việc tại địa phương, đến cuối
tháng 9/2025 anh L vào TP . làm thuê nên không thể chấp hành giấy triệu tập
của Tòa án. Tuy nhiên, trước khi vào TP . làm thuê, anh L đã được công chức
Tư pháp xã X tống đạt trực tiếp giấy triệu tập thì anh L cho rằng, anh chấp nhận
thuận tình ly hôn với chị H, nhưng nguyện vọng của anh mong muốn Tòa án tạo
điều kiện giao các con cho anh được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và từ
chối đến Toà án tham gia tố tụng.
[2.4] Từ những nhận định trên, HĐXX có đủ cơ sở để kết luận: quan hệ
hôn nhân giữa chị H và anh L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị
H khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn với anh L là
có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình – 2014 nên được HĐXX chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung: Giữa chị H và anh L có 02 người con chung là
các cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày: 23/6/2011, Nguyễn Đình V1, sinh ngày:
-- 4 of 6 --
5
01/11/2018. Hiện nay sức khoẻ, thể chất của các cháu đang phát triển bình
thường; đang được anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị H tự
nguyện giao cháu V1 và cháu V cho anh L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng;
không tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
Xét yêu cầu về việc nuôi con chưa thành niên sau ly hôn của chị H,
HĐXX thấy rằng: Từ khi chị H bỏ nhà vào Q sống và làm việc thì cháu V1 và V
được anh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay cháu V1 và V đã trên 07
tuổi nên Tòa án tiến hành lấy ý kiến của các cháu theo quy định tại khoản 2 Điều
81 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 3 Điều 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/3/2026, cả cháu V1 và cháu V đều có nguyện
vọng ở với bố. Do vậy, HĐXX xét giao cả hai cháu cho anh L tiếp tục chăm sóc,
nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật. Các đương sự không tranh
chấp nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên Toà án không xem xét, giải
quyết.
[4] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không có tranh chấp chia tài sản
chung, giải quyết nghĩa vụ tài sản đối với người khác nên HĐXX không xem
xét, giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí DSST: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, chị Nguyễn Thị H phải
chịu án phí ly hôn.
[6] Tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên về hướng giải quyết vụ án phù
hợp với nhận định của HĐXX nên Toà án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39. , các Điều 186, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3
Điều 228. , các Điều 264, 266, 273 và Điều 280 của BLTTDS, được sửa đổi, bổ
sung một số điều bởi Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014;
- Áp dụng khoản 4 Điều 147 của BLTTDS, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa XIV quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H về việc yêu
cầu ly hôn với anh Nguyễn Đình L.
1.1. Về quan hệ hôn nhân:
-- 5 of 6 --
6
Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Đình L.
1.2. Về quan hệ con chung:
Anh Nguyễn Đình L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con
chung chưa thành niên giữa chị H và anh L là các cháu Nguyễn Đình V, sinh
ngày: 23/6/2011 và Nguyễn Đình V1, sinh ngày: 01/11/2018. Các đương sự
không tranh chấp về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên Toà án không
xem xét, giải quyết.
Sau ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc,
giáo dục con chung không ai được cản trở;
Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về quan hệ tài sản:
Các đương sự không có tranh chấp nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Án phí DSST:
Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí
ly hôn, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0003920 ngày 21/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Nguyễn Đình L
vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ
ngày nhận tống đạt trực tiếp hoặc niêm yết công khai hợp lệ bản án.
Nơi nhận
- Phòng GĐ, KT, TTr và THA
TAND tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 3 - Gia Lai;
- VKSND khu vực 3 – Gia Lai;
- UBND xã Xuân An, tỉnh Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Đình Quyến
-- 6 of 6 --