CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc2
Mặc dù được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả;
mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và anh chị dần dần ít khi liên lạc với
nhau. Khoảng 01 năm trở lại đây anh chị không còn nói chuyện chia sẻ, quan tâm
đến nhau nữa.
Nay chị P và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích
hôn nhân không đạt được do đó anh chị đều đề nghị Toà án giải quyết cho anh chị
được ly hôn.
1.2. Về con chung: Chị Ngô Thị P và anh Trần Văn T có 03 con chung là
cháu Trần Thu T1, sinh ngày 13/11/2002; cháu Trần Thị Hải Y, sinh ngày
05/8/2006 và cháu Trần Long N, sinh ngày 31/5/2012.
Do cháu T1 đã xây dựng gia đình riêng, trưởng thành tự lập; cháu Y đã trên
18 tuổi, trưởng thành, tự lập nên anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc
nuôi dưỡng cháu T1, cháu Y sau ly hôn.
Đối với cháu N, hiện đang ở với anh T; ly hôn anh chị đều nhất trí để anh T
được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu N đủ
18 tuổi, trưởng thành; chị P không phải cấp dưỡng nuôi cháu N cho anh T.
Chị Ngô Thị P và anh Trần Văn T đều xác định anh chị không có con nuôi,
không ai có con riêng.
1.3. Về tài sản riêng của mỗi người, tài sản chung của vợ chồng, tài sản
công sức, đất nông nghiệp trồng cây hàng năm (ruộng cấy), nghĩa vụ chung
về tài sản của vợ chồng (công nợ), trợ cấp khó khăn sau ly hôn: Chị Ngô Thị
P và anh Trần Văn T đều tự nguyện không yêu cầu Toà án giải quyết.
1.4. Chị P, anh T đều xác định vợ chồng anh chị không thể đoàn tụ và do
điều kiện công việc không thể tham gia xét xử vì vậy đề nghị Tòa án xét xử vắng
mặt anh chị.
[2] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình
có quan điểm:
* Về tố tụng, Toà án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình thụ lý giải quyết vụ án
đúng thẩm quyền; quá trình giải quyết vụ án tại toà và xét xử tại phiên toà, Thẩm
phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.