CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcTheo đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 07 năm 2025 và các lời khai tại Toà án
2
nhau. Từ năm 2022 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, chăm
sóc lẫn nhau. Chị C cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn B.
- Về con chung: Chị C và anh B có 02 con chung là cháu Phạm Triệu Tuyết
M, sinh ngày 13/10/2020 và cháu Phạm Minh Đ, sinh ngày 11/02/2022. Các cháu
hiện khỏe mạnh, phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị C đề nghị được trực tiếp
nuôi dưỡng cháu Phạm Minh Đ cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; giao cháu Phạm
Triệu Tuyết M cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18
tuổi. Chị C không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Triệu Thị C không yêu cầu Tòa
án xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí: Chị Triệu Thị C tự nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định
của pháp luật.
Theo bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phạm Văn B
trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn B và chị Triệu Thị C tự nguyện tìm
hiểu và đăng ký kết hôn năm 2020, có Giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã G,
huyện C, tỉnh Lạng Sơn (nay là UBND xã B, tỉnh Lạng Sơn) cấp ngày 08/5/2020.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì đến
khoảng năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong quá trình chung
sống hai bên thường xuyên bất đồng quan điểm, dẫn đến cãi vã, xúc phạm lẫn
nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên và Hòa giải viên thuộc Trung tâm hòa giải,
đối thoại tại Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thanh Hóa tiến hành hòa giải nhưng
mâu thuẫn không được khắc phục. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không
còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn,
anh B cũng nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày càng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên anh đồng ý ly hôn với chị Triệu Thị C.
- Về con chung: Anh B và chị C có 02 con chung là cháu Phạm Triệu Tuyết
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.