CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcsố 21/2026/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2026; quyết định hoãn phiên
2
chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa
án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn P.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh P có 02 con chung là Hoàng Thị
T, sinh năm 2005 và Hoàng Thị T1, sinh năm 2001. Hiện hai con đã trưởng thành
nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Nợ chung của vợ chồng: Không có
Chứng cứ chị D đưa ra để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là 01 Giấy
chứng nhận kết hôn; 02 bản sao căn cước công dân; 02 bản sao Giấy khai sinh; 02
Giấy xác nhận thông tin nơi cư trú; 01 phiếu gửi bưu điện
Tại bản tự khai ngày 29/12/2025, anh Hoàng Văn P trình bày: anh và chị
Chu Thị D kết hôn với nhau năm 2000, trước khi kết hôn, anh và chị D có được tự
nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện S (nay là xã Y, tỉnh
Bắc Ninh). Sau ngày cưới, chị D về chung sống với tôi ngay tại thôn Đ, xã Y. Tình
cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuối năm 2020, nguyên nhân mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống, không hợp nhau trong làm ăn phát triển kinh tế gia đình, nên
thường xảy ra cãi nhau. Mặc dù hai bên gia đình khuyên bảo nhưng không có kết
quả. Hiện nay anh và chị D đang làm công nhân tại Công ty H, địa chỉ: Khu Công
nghiệp Q - Bắc Ninh, hai vợ chồng vẫn sống cùng nhau tại nhà trọ. Do vậy, anh
vẫn còn tình cảm với chị D nên chị D đề nghị Ly hôn, anh không nhất trí.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh và chị D có 02 con chung là cháu
Hoàng Thị T1, sinh ngày 20/5/2001, hiện nay đã lấy chồng, có gia đình riêng và
cháu Hoàng Thị T, sinh ngày 18/7/2005, cháu cũng đã trưởng thành. Tôi không đề
nghị Tòa án giải quyết về nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh P đến hòa giải
nhưng anh P không đến Tòa án làm việc.
Tại phiên tòa. Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn vắng
mặt không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.