CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcđưa vụ án ra xét xử số: 36/2026/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2026 giữa
Ngân hàng TMCP P (H1) đã cho ông Trần Tấn T2 và bà Đặng Thị Bé T3 vay
tiền theo Hợp đồng tín dụng 24785/22MN/HĐTD ngày 01/06/2022; Phụ lục hợp
đồng tín dụng số 24785/22MN/HĐTD/PL01 ngày 05/07/2022 như sau: số tiền vay
2.962.500.000 đồng, mục đích vay và lãi suất vay được tính theo từng khế ước
nhận nợ. Ngoài ra ông Tấn T2 còn sử dụng thẻ tín dụng hạn mức 20.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 01, tờ bản đồ
số 217-2020, ấp H, xã H, tỉnh An Giang. HĐTC số 25298/22MN/HĐBĐ
05/07/2022. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 626537, số vào số cấp giấy
chứng nhận CS166046 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh K cấp ngày
05/02/2021, cập nhật thay đổi ngày 04/07/2022 đứng tên ông Trần Tấn T2.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 154+153+144-
a, tờ bản đồ số 2, ấp H, xã H, tỉnh An Giang. HĐTC số 20866/22MN/HĐBĐ ngày
01/06/2022. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y 801912, số vào số cấp giấy
chứng nhận P000286QSDĐ/778 do UBND huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày
23/04/2004, cập nhật thay đổi ngày 27/05/2022 đứng tên ông Trần Tấn T2.
Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nợ nhưng ông Trần Tấn T2 và bà Đặng
Thị Bé T3 vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng dẫn đến vi
phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng.
Nay Ngân hàng TMCP P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Buộc ông Trần Tấn T2 và bà Đặng Thị Bé T3 phải thanh toán ngay một lần
toàn bộ nợ gốc và lãi cho H1 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/03/2025 là:
3.848.723.888 đồng (Ba tỷ tám trăm bốn mươi tám triệu bảy trăm hai mươi ba
nghìn tám trăm tám mươi tám đồng). Trong đó:
- Khoản vay theo hợp đồng tín dụng là: 3.822.954.325 đồng (trong đó: Nợ
gốc 2.962.500.000 đồng; Lãi trong hạn 391.924.760 đồng; Lãi quá hạn:
468.529.565 đồng).
- Thẻ tín dụng: 25.769.563 đồng, trong đó: Gốc: 11.948.721 đồng;
Lãi/phí/phạt: 13.820.842 đồng.
2. Buộc ông Trần Tấn T2 và bà Đặng Thị Bé T3 phải thanh toán phần nợ lãi
phát sinh đối với số tiền nợ gốc còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.