CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcNgày 29 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2026/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2026/QĐST-HN ngày 20 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đương sự: Tại bút lục số 24: Biên bản xác minh tại Công an phường C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/02/2026 xác nhận ông Lê Võ Trọng T, sinh năm 1983 không có đăng ký thường trú, tạm trú và sinh sống tại địa chỉ số B, khu phố H, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thực hiện đăng công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; thời điểm thực hiện các thủ tục tố tụng tại Tòa án theo Thông báo số 03/TB-TA ngày 2/4/2026 (bút lục 32, từ bút lục 35 đến 64) nhưng bị đơn ông T vẫn vắng mặt không có lý do; do đó, Tòa án xét xử vụ án theo quy định chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử để giải quyết vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng bà S và ông Lê Võ Trọng T tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2005 tại UBND Phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là UBND phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2005 ngày 26/04/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng bà S và ông Lê Võ Trọng T sinh sống, ở trọ làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Quá trình chung sống, vợ chồng bà S chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến khoảng đầu năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T cờ bạc và không lo cho gia đình, thường đánh bà S. Vì vậy nên bà S và ông T đã sống ly thân từ năm 2017. Từ năm 2017 đến nay, bà S đang sinh sống tại ấp X, xã T, tỉnh Vĩnh Long cùng với con ruột là cháu Lê Trọng K, sinh ngày 16/11/2005.
Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc. Việc bà S và ông T không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau; hai vợ chồng sống ly thân trong thời gian dài từ năm 2017 và không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà S và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà S đối với ông T.
[2.2] Về con chung: Bà S và ông T có 01 người con chung là cháu Lê Trọng K, sinh ngày 16/11/2005. Hiện nay cháu K đã trên 18 tuổi, cháu có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[4] Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), bà Thạch Thị S phải chịu, khấu trừ tạm ứng đã nộp.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thạch Thị S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều: 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ các Điều: 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thạch Thị S đối với bị đơn ông Lê Võ Trọng T về việc “ly hôn”.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị S được ly hôn với ông Lê Võ Trọng T (Giấy chứng nhận kết hôn số 35/2025 do UBND phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp ngày 26/4/2005).
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà S và ông T có 01 con chung là cháu Lê Trọng K, sinh ngày 16/11/2005. Hiện nay cháu K đã trên 18 tuổi, cháu có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không đề nghị tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về chi phí đăng thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng: Số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng), bà Thạch Thị S phải chịu, khấu trừ tạm ứng đã nộp.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Thạch Thị S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0052560 ngày 24 tháng 12 năm 2025 và 0052572 ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố H.
4. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- TAND TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND Khu vực 15 – TP. Hồ Chí Minh;
- Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh;
- UBND P. Phú An, TP. Hồ Chí Minh;
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.