Mục lục - 3 điều ▼
Điều 6. , điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa
án. Xử cho chị Vi Thị Đ được ly hôn với anh Cầm Bá S. Vợ chồng có 02 con
chung là Cầm Bá D; sinh ngày 18/9/2015 và Cầm Bá T; sinh ngày 28/11/2017. Đề
nghị giao cả hai cháu cho anh Cầm Bá S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho
đến kho các con đến tuổi thành niên. Chị Vi Thị Đ cấp dưỡng nuôi con cùng anh S
mỗi tháng mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho một cháu cả hai cháu là
2.000.000đ (hai triệu đồng). Chị Vi Thị Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc
con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở. Chị Vi Thị Đ phải chịu án phí
ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Vi Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Cầm
Bá S. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng
dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 -
TH.
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Cầm Bá S không có
mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ cho anh S theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
Anh Cầm Bá S đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh S
không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là
trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207
BLTTDS.
Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Cầm Bá S lần thứ hai đến Tòa án để tham gia
phiên toà nhưng anh S vẫn không có mặt mà không có lý do nên căn cứ quy định
vào các Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt anh Cầm Bá S.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị Đ và anh Anh Cầm Bá S kết hôn trên
cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 20/05/2019 tại UBND Thôn TL, tỉnh TH
nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân chị Đ và
anh S đều thừa nhận vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng về quan
điểm sống, dẫn đến cuộc sống chung không có hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly
thân từ năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa, việc này
cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã
tiến hành thu thập. Tại bản tự khai gửi cho Tòa án anh S cũng xác định tình cảm vợ
-- 3 of 13 --
4
chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị Vi Thị Đ. Đến thời điểm hiện tại
chị Đ vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị Đ
và anh S đã lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích
hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51 và Điều 56
Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Vi Thị Đ được ly hôn với anh Cầm Bá S.
[3] Về con chung: Chị Vi Thị Đ và anh Anh Cầm Bá S có 02 con chung là
cháu Cầm Bá D; sinh ngày 18/9/2015 và Cầm Bá T; sinh ngày 28/11/2017. Ly hôn
chị Đ và anh S đều đề nghị Tòa án giải quyết giao cả hai cháu D và Thiên cho anh
S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Để
không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển bình thường về mọi mặt của
các con, theo nguyện vọng của hai cháu D và Thiên, HĐXX chấp nhận sự tự
nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con chung, giao hai cháu D và Thiên
cho anh S được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đến tuổi thành
niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc
con chung, không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, Điều
82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình và Nghị Quyết số: 01/2024/ NQHĐTP ngày
16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Đ và anh Cầm Bá S có nguyện vọng
sau khi ly hôn giao con cho anh S được trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ có trách nhiệm
cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh S mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng) cho
một cháu cả hai cháu là 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi các con đến tuổi
thành niên. Xét yêu cầu của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với
quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về chia tài sản chung: Chị Vi Thị Đ và anh Cầm Bá S không yêu cầu
Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Buộc chị Vi Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí
cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết
vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147;227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự và Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá
sản, Luật Hòa giải đối thoại.
Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia
đình;
Căn cứ: Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6
Điều 27. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án;
-- 4 of 13 --
5
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị Đ được ly hôn với anh Cầm Bá S.
2. Về con chung: Giao hai cháu Cầm Bá D; sinh ngày 18/9/2015 và Cầm Bá
T; sinh ngày 28/11/2017 cho anh Cầm Bá S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
cho đến tuổi thành niên.
Chị Vi Thị Đ được quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không
ai được ngăn cấm, cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi Thị Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh
S mỗi tháng 1.000.000đ (một triệu đồng)/một cháu, cả hai cháu là 2.000.000đ (hai
triệu đồng) cho đến khi các con đến tuổi thành niên. Thời gian cấp dưỡng nuôi con
chung tính từ tháng 03 năm 2026.
3. Về án phí: Chị Vi Thị Đ phải chịu án phí dân sự về việc ly hôn là
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Tổng cộng án phí chị Đ phải chịu là 600.000đ
(Sáu trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0003782 ngày 08 tháng 12 năm 2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh TH.
Chị Vi Thị Đ còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp
dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Đ vắng mặt anh
S. Chị Vi Thị Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm, anh Cầm Bá S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30. của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh TH;
- VKSND khu vực 10 - TH;
- THADS tỉnh TH;
- Các đương sự;
- UBND Thôn TL, tỉnh TH;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Xuân Thành
-- 5 of 13 --
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Lê Quang Tùng Nguyễn Thị Thanh Phạm Xuân Thành
-- 6 of 13 --
7
-- 7 of 13 --
8
-- 8 of 13 --
9
-- 9 of 13 --
10
-- 10 of 13 --
11
-- 11 of 13 --
12
-- 12 of 13 --
13
-- 13 of 13 --