CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc150/2025/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về “tranh chấp ly hôn”,
-2-
Y, sinh ngày 02/01/2013 và Lê Thanh S, sinh ngày 01/01/2017. Sau khi ly hôn
hai con có nguyện vọng sống với chị và chị có nguyện vọng nuôi dưỡng 02 con
chung. Do đó, chị xin nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu anh T cấp dưỡng
nuôi 02 con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi chấm dứt việc nuôi con theo
quy định pháp luật.
Về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia và nợ chung không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Lê Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia hòa
giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do và không có ý kiến, yêu
cầu gì đối với nội dung nguyên đơn khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị C vắng mặt có văn bản xin vắng mặt; anh T đã
được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải và phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 1, 3 Điều
228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến
hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Chị C và anh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn
ngày 15/5/2012 tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là UBND xã T,
tỉnh Đồng Nai) là hôn nhân hợp pháp. Về mâu thuẫn chị C cho rằng quá trình
chung sống anh T thường xuyên ghen tuông vô cớ, không chăm lo cho gia đình,
không có sự phụ giúp lẫn nhau trong công việc gia đình, thời gian diễn ra lâu
dần làm cho vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã quá trầm trọng nên chị
khởi kiện xin ly hôn. Đối với anh T đã biết việc chị C khởi kiện xin ly hôn với
anh nhưng không có ý kiến phản bác yêu cầu khởi kiện của chị C. Mặt khác, anh
T đã được Tòa án thông báo tham gia hòa giải và triệu tập để tham gia phiên tòa
hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ
án, cho thấy anh T cũng không muốn hàn gắn và chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của chị C đặt ra. Như vậy, giữa chị C và anh T đã từ lâu không có sự quan tâm,
chăm sóc, chia sẽ, giúp đỡ nhau và không chung sống với nhau, cả hai đều
không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng. Từ căn cứ trên, xét thấy tình trạng mâu
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.