CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcHNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Phương A và anh Nguyễn Văn T tự
nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là
UBND) xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là UBND xã K, tỉnh Hưng Yên) vào
ngày 07/3/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chị Phương A anh T về chung sống
cùng gia đình anh T, vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát
sinh mâu thuẫn, nguyên nhân của mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng
quan điểm trong cuộc sống, anh T chơi bời, rượu chè, không chú tâm làm ăn, khi
chị Phương A khuyên bảo thì vợ chồng lại xảy ra xô xát, cãi, chửi nhau, vợ
chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, bạn
bè người thân và gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không thành, đến
tháng 12/2024 chị Phương A cùng con bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở số I, C, phường L,
tỉnh Lào Cai để ở, sống ly thân với anh T từ đó đến nay. Nay chị Phương A xác
định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị Phương A đề nghị Tòa
án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị Phương A và anh T có 02 con chung
Nguyễn Bảo L, sinh ngày 15/11/2018 và con Nguyễn Bảo L1, sinh ngày
12/4/2020 hiện nay 02 con chung đang ở cùng chị, ly hôn chị đề nghị Toà án
giao cho chị được trực tiếp nuôi cả 02 con chung, chị Phương A không yêu cầu
anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị Phương A làm kinh
doanh, buôn bán tại tỉnh Lào Cai, thu nhập hàng tháng khoảng 20 triệu đồng, có
chỗ ăn, ở đủ điều kiện để nuôi con.
- Về quan hệ tài sản: Nguyên đơn chị Phương A trình bày, không yêu cầu
Toà án giải quyết về tài sản.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã
nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và đã được Toà án triệu tập hợp lệ
nhiều lần nhưng anh T vẫn cố tình vắng mặt không có lý do và cũng không có
văn bản trình bày ý kiến của mình về việc chị Phương A xin ly hôn anh T, nên
Toà án không thu thập được lời khai của anh T, Tòa án đã tiến hành các bước
cấp, tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án trực tiếp cho người thân thích cùng nơi
cư trú với anh T để giải quyết vụ án.
Xác minh tại UBND xã K, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú của các đương sự:
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.