01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 06 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực
2 – Bắc Ninh.
Về việc vắng mặt của đương sự: anh Nguyễn Tuấn T có đơn xin xét xử vắng
mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố
tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tuấn T.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: chị H, anh T đều thừa nhận
hai vợ chồng chung sống từ năm 1991 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn tại
UBND xã theo quy định.
Qua xác minh, tại Ủy nhân dân phường V, tỉnh Bắc Ninh không có thông
tin về việc đăng ký kết hôn giữa chị H, anh T. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị
Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Tuấn T không được pháp luật công nhận, không
làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng.
Quá trình chung sông vợ chồng chị H, anh T chung sống với nhau hòa
thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn
là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng trong quan điểm sống, nên vợ chồng
có xảy ra cãi vã và xô xát. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, cắt đứt mọi liên
lạc không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn
Thị H vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với
anh Nguyễn Tuấn T.
Do vậy, căn cứ quy định tại điểm b khoản 3
Nghị quyết 35/2000/QH10
ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội
đồng xét xử tuyên bố không công nhận vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh
Nguyễn Tuấn T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về con chung: Các con đã trên 18 tuổi và có cuộc sống riêng, chị H,
anh T không đề nghị giải quyết.
[4] Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác chung: Chị H, anh T không
yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) tiền án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của
Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-- 3 of 4 --
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về điều luật áp dụng:
Căn cứ vào khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1