CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúcDo Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2025/DS-ST, ngày 20 tháng 10 năm 2025
2
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
3.4. Bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm 1987. Địa chỉ khu vực P, phường T,
thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền ông M, ông N, ông Ú: Nguyễn Văn Ú, sinh
năm 1992. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).
3.5. Bà Nguyễn Thị Thu M1, sinh năm 1973. (Có mặt).
3.6. Cháu Nguyễn Quốc H, sinh năm 2013. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
3.7. Bà Trần Thị S, sinh năm 1932, chết ngày 21/9/2024.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ bà Trần Thị S, gồm:
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1960. (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1964. (Có mặt).
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969. (Có mặt).
Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1966. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố
Cần Thơ. (Vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Lệ .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án, quyết định bản
án sơ thẩm và nội dung kháng cáo được tóm tắt như sau:
* Nguyên đơn trình bày: Phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 1137
phía chồng bà L là ông Nguyễn Văn Bé H1 được cấp giấy đất từ năm 1990 cho
đến nay, di chúc ông C và bà S lập năm 1995 không phù hợp quy định pháp luật,
bởi lẽ thửa đất này thuộc quyền sử dụng của ông Bé H1. Tuy nhiên, cho đến hiện
tại thì ông C, bà S tặng cho đất cho các con theo đúng nội dung di chúc năm 1995.
Như vậy, cha mẹ cũng chia phần cho các con trong đó có ông Nguyễn Văn D, ông
D không nuôi dưỡng cha mẹ mà do ông Bé H1 nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông D chỉ
nuôi dưỡng cha mẹ già từ năm 2012 cho đến nay. Đối với phần đất hơn 200m2
còn lại theo tờ di chúc năm 1995 thì vợ chồng ông C đã chuyển nhượng đất cho
người khác. Riêng phần đất tranh chấp là phần đất của vợ chồng ông Bé H1. Từ
Trình bày theo thể thức NĐ 30/2020/NĐ-CP. Đối chiếu PDF gốc trên đầu trang.