Điều 51. Bộ luật Hình sự phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do
hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Trong vụ án này bị hại là người có lỗi
nên cần được xem xét giảm nhẹ một phần bồi thường thiệt hại do ông N1 là
người có lỗi. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân khách quan và tính
chất mức độ phạm tội của bị cáo; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy
định tại điểm c, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì vậy đủ điều kiện
-- 6 of 11 --
7
áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự và có đủ căn cứ áp dụng cho bị cáo
hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H. Giữ nguyên
Bản án sơ thẩm số 02/2026/HS-ST ngày 12/01/2026 của Toà án nhân dân khu
vực 11-Vĩnh Long.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn H 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương
tích”. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015
được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 588, 590 và Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Đoàn Văn H có nghĩa vụ bồi thường cho ông Bùi Văn N1 số
tiền 89.219.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) do bị cáo
Đoàn Văn H nộp, theo biên lai thu tiền số 0000508, ngày 25/8/2025 tại Thi hành
án dân sự tỉnh Vĩnh Long để đảm bảo cho việc thi hành án khi bản án có hiệu
lực pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Đoàn Văn H: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt và giảm tiền bồi thường tổn thất tinh thần do gia đình bị cáo khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý
kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn H nộp trong hạn luật định là hợp
lệ, phù hợp quy định Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai của bị cáo Đoàn Văn H tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời
khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời
khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm
chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 20 giờ
ngày 11/12/2024 tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp P, xã B, tỉnh
Vĩnh Long) bị cáo Đoàn Văn H đã có hành vi sử dụng lưỡi dao có chữ USA
-- 7 of 11 --
8
màu trắng, bằng kim loại, mũi nhọn, dài 09cm là hung khí nguy hiểm đâm nhiều
cái theo hướng từ trên xuống trúng vào má bên phải, vùng cổ bên phải, thái
dương phải, xoăn tai bên phải và cằng tay trái của bị hại Bùi Văn N1 gây thương
tích với tỷ lệ theo kết luận giám định là 17%. Hành vi của bị cáo H sử dụng lưỡi
dao có bằng kim loại, mũi nhọn, dài 09cm là hung khi nguy hiểm gây thương
tích cho bị hại N1 với tỷ lệ 17% đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo
điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét
xử bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm, khoản, điều luật trên là
đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện
hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác một
cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa
phương nên cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo của bị cáo
Đoàn Văn H, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt đối với bị
cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm
tội của bị cáo và đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; bị cáo tự nguyện nộp 10.000.000 đồng để bồi thường khắc phục một phần
hậu quả; bị hại ông Bùi Văn N1 cũng có một phần lỗi. Ngoài ra, bị cáo có sức
khỏe không tốt, bị bệnh suy tim, hở van 2 lá nặng, đái tháo đường típ 2, rối loạn
lipid máu; vợ bị cáo Nguyễn Kim C hiện đang bị bệnh nặng được Bệnh viện
Ung bướu CS2 Thành phố H; con bị cáo Đoàn Tấn T2 bị bệnh hội chứng thực
bào máu, nhiễm trùng huyết và tăng men cao và trí tuệ hỗn hợp ở mức chậm
trung bình – so với lứa tuổi, kiến thức mức độ chậm trung bình – so với trình độ
học vấn ở nhà trường; hoàn cảnh kinh tế đang gặp khó khăn có xác nhận của
chính quyền địa phương; bị cáo là lao động chính trong gia đình được quy định
tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết
định hình phạt đối với bị cáo. Mức khung hình phạt truy tố bị cáo có mức án tù
từ 02 năm đến 06 năm, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo mức án 02 năm tù
là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với quy định của pháp
luật. Sau khi xét xử bị cáo nộp đơn kháng cáo kèm theo các tài liệu đơn xin xác
nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, giấy khám sức khỏe của bị cáo và chứng
nhận bệnh của ông bị cáo và tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo cung cấp
đơn thuốc, kết quả siêu âm tim của bị cáo, tuy nhiên các tài liệu chứng cứ trên
chứng minh cho bị cáo có sức khỏe không tốt đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem
xét cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra
bị cáo cũng không còn cung cấp tài liệu, chứng cứ nào mới, do đó không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho hưởng án treo của bị cáo.
-- 8 of 11 --
9
Vì vậy giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã
đề nghị.
[5] Xét kháng cáo của bị cáo yêu cầu giảm trách nhiệm dân sự, Hội đồng
xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa, bị cáo H và bị hại N1 thống nhất các khoản bồi
thường gồm: Chi phí điều trị tại Bệnh viện R Mặt số tiền: 9.784.000 đồng; chi
phí tái khám: 1.835.000 đồng; chi phí giám định thương tật: 2.080.000 đồng; chi
phí ăn dưỡng trong thời gian điều trị vết thương từ ngày 11/12/2024 đến ngày
09/01/2025 là 29 ngày x 200.000 đồng/ngày = 5.800.000 đồng; ngày công
không lao động của bị hại N1 trong thời gian điều trị vết thương từ ngày
11/12/2024 đến ngày 09/01/2025 là 29 ngày + 30 ngày để hồi phục vết thương,
tổng cộng là 59 ngày x 300.000 đồng/ ngày = 17.700.000 đồng; chi phí người
nuôi bị hại N1 với số tiền 3.200.000 đồng; tiền xe đi lại là: 2.020.000đồng. Tổng
cộng các khoản trên là 42.419.000 đồng. Do bị cáo và bị hại thỏa thuận thống
nhất bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên nên ghi nhận sự thỏa thuận
của các bên về các chi phí nêu trên.
Xét bị cáo kháng cáo yêu cầu giảm tiền bồi thường bù đắp tổn thất về tinh
thần: Xét thấy bị cáo gây thương tích cho bị hại N1 với tỷ lệ thương tật là 17%,
đã ảnh hưởng nghiêm trọng về sức khỏe và tinh thần của bị hại N1, là nguyên
nhân gây giảm sút về sức khỏe cho bị hại, do đó bị hại N1 yêu cầu bị cáo bồi
thường tiền tổn thất về tinh thần là có căn cứ, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo
bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho bị hại 20 tháng lương cơ sở:
2.340.000đồng/tháng x 20 tháng = 46.800.000 đồng là phù hợp với quy định